Đề cương ôn tập Ngữ văn 6 - Chủ đề 10: Cuốn sách tôi yêu

doc 12 trang baigiangchuan 09/03/2026 70
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn 6 - Chủ đề 10: Cuốn sách tôi yêu", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docde_cuong_on_tap_ngu_van_6_chu_de_10_cuon_sach_toi_yeu.doc

Nội dung text: Đề cương ôn tập Ngữ văn 6 - Chủ đề 10: Cuốn sách tôi yêu

  1. CHỦ ĐỀ 10: CUỐN SÁCH TÔI YÊU A. Kiến thức chung về văn bản nghị luận I. Văn bản nghị luận văn học - Là một loại văn bản nghị luận, có nội dung bàn về một vấn đề văn học như tác giả, tác phẩm, thể loại, ...Nghị luận văn học sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ vấn đề văn học được nói tới. II. Các yếu tố của văn bản nghị luận văn học: - Lí lẽ: chính là những nhận xét cụ thể của người viết tác giả, tác phẩm, thể loại, ... - Bằng chứng: thường lấy từ tác phẩm văn học. III. Cách đọc hiểu văn bản văn học 1. Nhận biết thành phần của văn bản nghị luận - Cần nhận biết phương thức biểu đạt: Phương thức biểu đạt chính là nghị luận. Nhưng bên cạnh đó phương thức biểu đạt nghị luận còn được kết hợp các phương thức khác nhằm thuyết phục người đọc như biểu cảm, tự sự, miêu tả... - Nhận biết vấn đề nghị luận: Vấn đề nhà văn đưa ra bàn luận là vấn đề gì? + Vấn đề thể hiện qua nhan đề. + Các từ khóa lặp đi lặp lại. - Nhận biết luận điểm: Luận điểm là quan điểm, tư tưởng, chủ trương mà người viết muốn biểu đạt. Luận điểm thường đứng ở đầu đoạn văn, hoặc cuối đoạn. Luận điểm thường là câu có tính chất khẳng định, hoặc phủ định. - Nhận biết luận cứ: luận cứ là cơ sử để triển khai luận điểm. Luận cứ là lí lẽ và dẫn chứng. - Nhận biết các thao tác lập luận: chứng minh, giải thích, so sánh, phân tích, bình luận, bác bỏ. 2. Hiểu nội dung và hình thức văn bản: - Nội dung thể hiện qua ý nghĩa nhan đề, chủ đề, tư tưởng, thái độ, tình cảm của tác giả với vấn đề nghị luận. - Hình thức thể hiện qua cách dùng từ, đặt câu, chi tiết, hình ảnh, 3. Liên hệ và vận dụng văn bản vào đời sống: - Cần rút ra cho mình bài học gì để vận dụng vào thực tiễn đời sống. IV. Luyện tập Đề số 1: Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi: Gió lạnh đầu mùa - Câu chuyện về tình người ấm áp Câu chuyện bắt đầu bằng cái không khí của “mùa đông đột nhiên đến” với “gió bấc? với “cái lạnh ở đâu đến” và cả cảm giác “rét mướt” rất đặc trưng của mùa đông xứ Bắc. Nhưng rồi, giữa cái tiết trời mà cỏ cây, hoa lá đều như sắt lại vì rét” đó, ta cảm nhận được hơi ấm của tình người. Đầu tiên là cảnh gia đình đầm ấm. Hình ảnh mẹ, chị bên thúng quần áo rét trong ngôi nhà với cái hoả lò và ấm trà có gì thật quá đỗi thân thương. Dù trong không khí ấm cúng Trang 1
  2. ấy vẫn có những kỉ niệm đau buồn về Duyên, đứa em gái bé trong gia đình đã mất từ năm lên bốn tuổi. Hình ảnh người mẹ “giơ lên một cái áo bông cánh đã cũ nhưng còn lành lặn? nói những lời đây trìu mến: “Đây là áo của cô Duyên đây” gợi lên một nỗi buôn thương sâu sắc. Nhưng chính tình yêu thương dành cho những đứa con của người mẹ là ngọn lửa sưởi ấm ngôi nhà. Chiếc áo bông cũ là một vật kỉ niệm ấp ủ trái tim người mẹ và cả gia đình. Cuộc sống không phải lúc nào cũng tràn trề hạnh phúc. Nhưng trong mất mát, tình yêu thương đã làm dịu bớt nỗi buôn đau. Chiếc áo bông cũ được mẹ nâng niu gìn giữ ấy, một lần nữa lại ủ ấm cho cô bé nghèo “co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay“ Hai chị em Lan và Sơn không đành lòng nhìn bé Hiên, người bạn nhỏ của mình run rẩy trong “gió lạnh đầu mùa“ “Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ” - như nhà văn viết - nhưng có lẽ hơn thế là với trái tim giàu trắc ẩn, với tình cảm thiết tha như "nhớ thương đến em Duyên ngày trước" Sơn và Lan đã mang tấm áo bông cũ ấy đến ủ ấm cho Hiên. Chiếc áo bông cũ gắn với kí ức còn nguyên về một đứa con đã mất của người mẹ, một đứa em ruột thịt của Lan và Sơn, giờ đây lại thành tấm áo của tình bạn thơ ngây mà thiết tha, ấm áp. Chiếc áo lại chở che, san sẻ hơi ấm cho những mảnh đời nghèo khó như của mẹ con bé Hiên. Giản dị và sâu lắng, “Gió lạnh đâu mùa” sưởi ấm trái tim chúng ta. (st) Câu 1. Văn bản đã đưa em trở lại gặp gỡ tác giả nào? Câu 2. Vấn đề chính được nêu ra bàn luận là gì? Phần nào của văn bản có vai trò nêu rõ vấn đề cần bàn luận? Câu 3. Tìm những bằng chứng được dẫn ra để làm rõ cho câu văn mở đầu đoạn 2: “Đầu tiên là cảnh gia đình đầm ấm". Câu 4. Câu văn “Giản dị và sâu lắng” “Gió lạnh đầu mùa” “sưởi ấm trái tim chúng ta” có vai trò gì trong văn bản? Gợi ý : Câu 1. Văn bản đã đưa em trở lại gặp gỡ tác giả với tác giả Thạch Lam Câu 2. Vấn đề chính được nêu ra bàn luận là: tình yêu thương ấm áp của con người với con người trong truyện Gió lạnh đầu mùa qua cách viết giản dị và sâu lắng của Thạch Lam Đoạn văn 1 của văn bản có vai trò nêu rõ vấn đề cần bàn luận Câu 3. Những bằng chứng được dẫn ra để làm rõ cho câu văn mở đầu đoạn 2: là cụm từ ngữ đặt trong dấu ngoặc kép. - Đây là áo của cô Duyên đây - co ro đứng bên cột quán, chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay - Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ - nhớ thương đến em Duyên ngày trước Câu 4. Câu văn “Giản dị và sâu lắng” “Gió lạnh đầu mùa” “sưởi ấm trái tim chúng ta” có vai trò khẳng định vấn đề nghị luận và nêu lên cảm xúc của người viết Trang 2
  3. Đề số 2: Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi: “Cả hai câu đầu đều không có chủ ngữ, khiến cho người nghe, người đọc rất dễ đồng cảm với cô gái, tưởng chừng như đang cùng cô gái đi thăm đồng, đang cùng cô “đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng ” và ngược lại. Nhờ vậy mà cái cảm giác về sự mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên và ta cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận và nói lên điều đó”. (Vẻ đẹp của một bài ca dao, Hoàng Tiến Tựu) Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên ? Câu 2. Theo tác giả, việc hai câu đầu của bài ca dao không có chủ ngữ đem lại hiệu quả nghệ thuật như thế nào? Câu 3. Nội dung của đoạn văn trên? Câu 4. Qua văn bản chứa đoạn văn, em hãy rút ra bài học gì về cách cảm nhận một tác phẩm trữ tình? Gợi ý Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn: nghị luận Câu 2.Theo tác giả, việc hai câu đầu của bài ca dao không có chủ ngữ đem lại hiệu quả nghệ thuật sau: - Khiến cho người nghe, người đọc rất dễ đồng cảm với cô gái. - Cái cảm giác về sự mênh mông, bát ngát của cánh đồng cũng lan truyền sang ta một cách tự nhiên. ta cảm thấy như chính mình đã trực tiếp cảm nhận và nói lên điều đó Câu 3. Nội dung của đoạn văn: Ý kiến của tác giả về vẻ đẹp của hai câu đầu bài ca dao “Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng......” là ở cấu trúc hai câu không có chủ ngữ. Câu 4. Qua văn bản chứa đoạn văn, em hãy rút ra bài học về cách cảm nhận một tác phẩm văn học: - Cần phải có sự tìm tòi, phát hiện ra những vẻ đẹp mới mẻ của tác phẩm trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật. - Muốn thế, phải trau dồi vốn sống, vốn hiểu biết về văn chương, phải chăm chỉ đọc sách báo... - Phải hiểu được đặc trưng thể loại của tác phẩm - Hiểu được tư tưởng, tình cảm mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm B. Viết: Sáng tạo cùng tác giả I. Sáng tạo tác phẩm nghệ thuật GV hướng dẫn HS trình bày, giới thiệu sản phẩm nghệ thuật mà HS đã sáng tạo ở nhà trước tổ, nhóm (chia lớp thành 4-6 nhóm). Sản phẩm sáng tạo của HS có thể là một trong các nội dung sau: - Sáng tác thơ (cảm xúc của em về nội dung, ý nghĩa, liên quan đến tác phẩm văn học một cuốn sách em đã đọc) - Kể chuyện sáng tạo (chọn một đoạn truyện) Trang 3
  4. - Dựng kịch ngắn (chọn đoạn truyện tiêu biểu) - Thiết kế bìa minh họa cho cuốn sách em yêu thích trong lần tái bản sắp tới. - Vẽ hình ảnh nhân vật em yêu thích - Viết lời tựa cho cuốn sách em yêu thích trong lần tái bản sắp tới. Bài tập tham khảo: Bài 1: Giới thiệu về một tác giả văn học mà em yêu thích. Có thể dùng kiến thức em đã tìm hiểu để giới thiệu theo 4 ý lớn như sau: - Một số hình ảnh về tác giả - Tiểu sử của tác giả - Hình ảnh một số tác phẩm tiêu biểu - Trích dẫn yêu thích Ví dụ Giới thiệu về tác giả An-đéc-xen: Tác giả An-đéc-xen gồm các nội dung tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách văn học và đóng góp cho nền văn học. 1. Một số hình ảnh về tác giả 2. Tiểu sử - An-đéc-xen (1805 – 1875) là nhà văn Đan Mạch. * Cuộc đời: - Ông sớm mồ côi cha và phải tự bươn chải kiếm sống. Tuổi thơ ông sớm phải làm nhiều nghề như dệt vải, thợ may, công nhân sau đó làm diễn viên và sau này chuyển sang viết văn. Có lẽ những gì mà ông trải qua trong thời niên thiếu đã trở thành nguồn cảm hứng cho những sáng tác sau này của ông. - Ông là người có ý chí vô cùng mạnh mẽ và nỗ lực quyết tâm vươn mình trong xã hội. - Ông còn sở hữu một giọng nói trong và cao. - Ông đọc nhiều tác phẩm văn học và có trí tưởng tượng phong phú * Sự nghiệp sáng tác - Ông là nhà văn vĩ đại của Đan Mạch thế kỉ XIX, là danh nhân văn hóa thế giới. - Nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em. Trang 4
  5. - Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra. Gia tài truyện cổ của ông vô cùng đồ sộ, trong đó có nhiều câu chuyện quen thuộc với bạn đọc Việt Nam như: Cô bé bán diêm, Bầy chim thiên nga, Nàng tiên cá, Bộ quần áo mới của hoàng đế, Nàng công chúa và hạt đậu Phong cách sáng tác - Truyện của ông nhẹ nhàng, toát lên lòng yêu thương con người, đượm màu sắc hư ảo và thơ mộng, thể hiện niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái tốt đẹp trên thế gian. 3. Hình ảnh một số tác phẩm tiêu biểu 4. Trích dẫn yêu thích về tác giả: + Cởi mở và ngây thơ, ông đã sáng tạo ra một phong cách kể chuyện rất mơ mộng, nồng nhiệt nhưng không kém phần lô gic. + Đẹp đẽ và trong trẻo, người đọc bị cuốn hút vào những câu chuyện kể của An-đec xen bằng sự hóa thân của nhà văn vào chính nhân vật được kể. Truyện Cô bé bán diêm là một câu chuyện nổi tiêng nhất. Câu chuyện kể về một em bé mồ côi mẹ, đi bán diêm trong đêm giao thừa trời rét mướt. Cô bé đã chết vì giá lạnh. Nhà văn đã tìm được những ánh sáng lấp lánh bằng cảm xúc trong trẻo của em tròn đêm: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ? Giá em có thể rút một que diêm ra quẹt vào tường mà hơ ngón tay nhỉ? Cuối cùng em đánh liều quẹt một que” Truyện Nàng tiên cá, có những đoạn văn kể thật mơ mộng: “Tít ngoài biển khơi kia, nước xanh hơn cánh đồng hoa mua biếc nhất, trong vắt như pha lê, nhưng sâu thăm thẳm, sâu đến nỗi neo buông không tới đáy, phải chồng chất vô số ngọn núi đá mới lên tới mặt nước” Đoạn văn cho thấy trí tưởng tượng bay bổng của nhà văn, tạo ra sức cuốn hút ngay dòng kể đầu tiên của câu chuyện. Bài 2: Giới thiệu về một cuốn sách hay đã đọc Ví dụ: Giới thiệu về tác phẩm: Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh: a. Mở bài: Giới thiệu tác phẩm và ấn tượng của em vè tác phẩm. Tuổi thơ được mệnh danh là tuổi thần tiên, tuổi đẹp nhất trong cuộc đời con người. Đi qua tuổi thơ, con người khó tìm được khoảng trời nào bình yên, trong sáng đến thế. Truyện ngắn Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã phần nào lí giải về việc vì sao chúng ta ai cũng khao khát trở về với tuổi thơ hồn nhiên và đẹp đẽ. b. Thân bài: * Giới thiệu về vị trí, chủ đề của tác phẩm: - Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ là truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh. Tác phẩm là một trong những sáng tác thành công nhất của ông và nhận được Giải thưởng Văn học ASEAN của năm 2010. Cuốn sách như một cuốn nhật kí đáng yêu, những ngây thơ thời con nít của không riêng tác giả, mà cho bất cứ ai đọc cuốn sách đều không ít bắt gặp ít nhất một lần mình ở trong đó. Trang 5
  6. - Nguyễn Nhật Ánh viết ở mặt sau cuốn sách: "Tôi viết cuốn sách này không dành cho trẻ em. Tôi viết cho những ai từng là trẻ em". * Đặc sắc về nội dung và nghệ thuật + Không gian truyện, nhân vật, sự việc chính: Nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã mời người đọc lên chuyến tàu để trở về với tuổi thơ, trên cái sân ga 8 tuổi của thằng cu Mùi. + Nhân vật và sự việc: Ở đó, những câu chuyện nhỏ xoay xung quanh 4 đứa trẻ trong cùng một khu xóm là con Tủn, con Tí sún, thằng Hải cò và thằng cu Mùi. Trong đó, người kể chuyện là cu Mùi dưới hình thức kể của "thằng cu Mùi" lúc bé và nhận xét, đánh giá của "ông Mùi" khi đã gần 50 tuổi. Song song đó còn có sự xuất hiện của các phụ huynh và những câu chuyện dở khóc dở cười khiến chúng như đang sống lại tuổi thơ tươi đẹp. + Cuốn sách đã vẽ lại cuộc sống, tình yêu thương, suy nghĩ của những đứa trẻ. Và sau này, lúc chúng ta đã lớn, ta nghĩ lại mọi sai lầm, mọi việc ngốc nghếch ngày trước mà đã ta trải qua, ta đều không cảm thấy hối hận. Vì đó là tuổi thơ, đó là một phần của cuộc sống mà ta đã từng đi qua + Chỉ là những câu chuyện nhỏ nhặt của cu Mùi cùng chúng bạn, nhưng Nguyễn Nhật Ánh đã đưa độc giả đi hết cảm xúc này đến cảm xúc khác, bồi hồi thương nhớ khôn nguôi Với lời văn hồn nhiên, trong sáng, Nguyễn Nhật Ánh đã dẫn dắt độc giả đi theo dòng hồi tưởng của mình, trở về cái thời khi còn là cậu bé tám tuổi. Diễn biến câu chuyện rất nhẹ nhàng, khiến cho người đọc không thôi bồi hồi thổn thức. Độc giả sẽ như nhìn thấy chính mình ngày thơ bé qua những suy nghĩ, hành động, tâm tư, tình cảm của các nhân vật chính + Cách kể chuyện: Vẫn giọng văn trong vắt và dí dỏm, Nguyễn Nhật Ánh đã dẫn dắt độc giả đi theo dòng hồi tưởng của mình, trở về cái thời còn là cậu bé tám tuổi, mang đến cho người đọc một thế giới tuổi thơ hồn nhiên, đầy ắp tiếng cười. Nhưng lồng vào những ngày tháng hồn nhiên đó lại là những trăn trở của người lớn. Cái sân ga tám tuổi của nhân vật tôi - “thằng cu Mùi” - như là một điểm tựa ký ức để tác giả thả vào đó những triết lý, những suy ngẫm về cuộc đời. c. Kết luận: Khẳng định giá trị, ý nghĩa của tác phẩm: - Cuốn sách “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ” là đã gợi nhớ về cả một tuổi thơ mà mỗi người đã đi qua. Cuốn sách là khiến mỗi người chợt mong ước được mãi là một đứa trẻ hồn nhiên mà chẳng phải lo nghĩ như người lớn. Nếu có tấm vé hành trình về lại tuổi thơ, chắc chắn tôi và bạn cũng xin đi nhờ một chuyến để về lại những tháng ngày khó mà quên. “Để sống tốt hơn đôi khi chúng ta phải học làm trẻ con trước khi học làm người lớn”. C. Viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng đời sống được gợi ra từ cuốn sách (hoặc văn bản) đã đọc I. Yêu cầu đối với bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng đời sống được gợi ra từ cuốn sách đã đọc: - Thể loại: Văn bản nghị luận xã hội - Vấn đề bàn luận: hiện tượng đời sống được gợi ra từ cuốn sách. Trang 6
  7. - Yếu tố cơ bản: Lí lẽ và bằng chứng - Yêu cầu cơ bản: + Nêu được tên sách và tác giả. + Nêu được hiện tượng đời sống gợi ra từ cuốn sách và ý kiến của em về hiện tượng đó. + Sử dụng được lí lẽ và bằng chứng để làm rõ hiện tượng II. Các bước thực hiện: 1. Trước khi viết - Lựa chọn đề tài: Chọn một cuốn sách em yêu thích và suy nghĩ về một hiện tượng đời sống mà cuốn sách gợi ra. - Tìm ý: + Điều em muốn viết liên quan tới cuốn sách nào? Ai là tác giả của cuốn sách đó? + Chi tiết, sự việc, nhân vật nào trong sách để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất? + Chi tiết, sự việc, nhân vật đó khiến em suy nghĩ đến hiện tượng đời sống nào? + Em có ý kiến như thế nào về hiện tượng đó? - Lập dàn ý: sắp xếp các thông tin và ý tưởng theo một trật tự phù hợp. + Mở bài: Giới thiệu tên sách, tác giả và hiện tượng đời sống mà cuốn sách gợi ra. + Thân bài: + + Nêu ý kiến (suy nghĩ) về hiện tượng. + + Nêu lí lẽ và bằng chứng để làm rõ ý kiến về hiện tượng cần bàn luận. + + Trình bày cụ thể về chi tiết, sự việc, nhân vật gợi lên hiện tượng cần bàn. + Kết bài: Nêu tầm quan trọng, ý nghĩa thực tế của hiện tượng đời sống được gợi ra từ cuốn sách. 2. Viết bài Khi viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng đời sống được gợi ra từ cuốn sách đã đọc, em cần lưu ý: triển khai cụ thể các ý đã nêu trong dàn ý; phân biệt các phần mở bài, thân bài, kết bài; có thể tách ý chính trong thân bài thành các đoạn văn. Đề số 1: Từ nội dung ý nghĩa của những VB ở bài 10 Trái Đất- ngôi nhà chung, em hãy viết bài văn suy nghĩ về một hiện tượng trong đời sống được gợi ra từ một trong các văn bản đó. 1. Lập dàn ý: sắp xếp các thông tin và ý tưởng theo một trật tự phù hợp. – Mở bài: Giới thiệu tên hai văn bản ở bài học số 9 tác giả và hiện tượng ô nhiễm môi trường hiện nay trong đời sống mà văn bản gợi ra. ô nhiễm môi trường hiện nay. – Thân bài: + Khái quát ngắn gọn nội dung hai văn bản + Thực trạng + Nguyên nhân + Hậu quả + Giải pháp – Kết bài: Khẳng định quan điểm về hiện tượng ô nhiễm môi trường là hiện tượng nguy hại, cần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường là trách nhiệm của mỗi người. 2. Viết bài Trang 7
  8. cần lưu ý: triển khai cụ thể các ý đã nêu trong dàn ý; phân biệt các phần mở bài, thân bài, kết bài; có thể tách ý chính trong thân bài thành các đoạn văn. - Viết theo dàn ý Dàn ý a. Mở bài Sau khi học xong các văn bản Trái Đất- cái nôi của sự sống của tác giả Hồ Thanh Trang và văn bản Các loài chung sống với nhau như thế nào của tác giả Ngọc Phú, em rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Bới vì ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang trở thành vấn đề trọng tâm của toàn xã hội và được dư luận hết sức quan tâm. Ô nhiễm môi trường đang diễn ra ngày ngày hàng giờ và ngày càng trở nên phức tạp hơn rất nhiều. Ô nhiễm môi trường đã và đang để lại những hệ lụy hết sức khôn lường cho toàn nhân loại. b . Thân bài Khi đọc hai văn bản, em nhận thấy Trái Đất vốn là một hành tinh xanh, muôn vật muôn loài trên Trái Đất đều cần cho nhau, đều phụ thuộc lẫn nhau. Đồng thời phần cuối hai văn bản đều nói đến những tác động tiêu cực của con người lên Trái Đất, làm tổn thương Trái Đất. Ô nhiễm môi trường là cách gọi cho những hành vi gây hại cho môi trường Trái Đất. * Biểu hiện của ô nhiễm môi trường (Thực trạng) - Môi trường không khí đang bị ô nhiễm hết sức nặng nề, Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh đã vượt quá ngưỡng mức cho phép về ô nhiễm không khí. Những năm gần đây nồng độ chì đã và đang tăng lên ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. - Ô nhiễm môi trường nước: Tình trạng ô nhiễm nguồn nước đang ngày càng báo động. Nguyên nhân chính là do một số khu công nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý ra môi trường. Bên cạnh đó hiện tượng xả rác ra ao, hồ sông suối vẫn còn tồn tại ở rất nhiều nơi (dẫn chứng). - Ô nhiễm môi trường đất: Đất là môi trường sống của một số sinh vật, tuy nhiên hiện tượng đất nhiễm chì, nhiễm chất hóa học do thuốc trừ sâu đang trở thành một vấn nạn mà chúng ta vẫn đang tìm cách giải quyết. Đặc biệt đối với những vùng đất thuộc các khu công nghiệp thì việc ô nhiễm môi trường đất đã trở thành vấn đề thường trực (dẫn chứng). * Nguyên nhân của ô nhiễm môi trường - Ý thức của một số doanh nghiệp còn kém: một số doanh nghiệp bất chấp pháp luật cố ý xả chất thải chưa qua xử lý vào môi trường, gây nên hiện tượng ô nhiễm môi trường nặng nề ở biển, sông. - Người dân xả rác thải dẫn đến tình trạng ô nhiễm diện rộng không kiểm soát được. - Sự quản lý của nhà nước còn nhiều yếu kém, hệ thống quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều lỗ hổng. * Hậu quả: * Giải pháp hạn chế ô nhiễm môi trường Trang 8
  9. - Cần có sự quản lý chặt chẽ của người nhà nước trong việc xử lý những doanh nghiệp cá nhân vi phạm. - Tăng cường tuyên truyền để cho nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường. Đồng thời nêu rõ tác hại của ô nhiễm môi trường đối với hệ sinh thái, sức khỏe con người. - Bản thân em và gia đình mình cũng luôn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường như sử dụng tiết kiệm nguồn năng lượng ; cố gắng hạn chế xả rác, khí thải, hóa chất ra môi trường c. Kết bài Các văn bản thông tin trong bài 9 Trái Đất- ngôi nhà chung đã cho em nhận thức tốt hơn về việc bảo vệ Trái Đất. Bảo vệ môi trường cần được xuất phát từ trong ý thức của mỗi con người. Hãy hình thành những thói quen nhỏ thôi như trồng và chăm sóc cây xanh, tiết kiệm nguồn năng lượng tự nhiên, yêu thiên nhiên, là cách mỗi chúng ta làm cho cuộc sống của mình tốt đẹp hơn. Đề bài 2: Đọc truyện cổ tích “Vua chích chòe” em hãy viết bài văn nêu suy nghĩ về một hiện tượng đời sống được đặt ra từ câu chuyện? 1. Lập dàn ý: sắp xếp các thông tin và ý tưởng theo một trật tự phù hợp. – Mở bài: Giới thiệu tên sách (tác phẩm văn học), tác giả và hiện tượng đời sống mà câu chuyện gợi ra. chê bai, miệt thị nét ngoại hình hay khiếm khuyết cơ thể của người khác trong đời sống. – Thân bài: + Nêu ý kiến (suy nghĩ) về hiện tượng chê bai chế nhạo ngoại hình của người khác: là hiện tượng phổ biến, đáng lên án + Nêu lí lẽ và bằng chứng để làm rõ ý kiến về hiện tượng chê bai, miệt thị ngoại hình ( chỉ ra các biểu hiện của hiện tượng chê bai, miệt thị cơ thể người khác; nguyên nhân; hậu quả và cách khắc phục khi gặp hiện tượng) + Trình bày cụ thể về chi tiết, sự việc, nhân vật gợi lên hiện tượng chê bai chế nhạo ngoại hình của người khác – Kết bài: Khẳng định quan điểm chê bai chế nhạo ngoại hình của người khác là hành vi xấu, cần loại bỏ Bài văn tham khảo: Đọc truyện cổ tích “Vua chích chòe” của anh em Gơ-rim kể lại, chi tiết mở đầu kể về nàng công chúa có tính kiêu ngạo và ngông cuồng, thường chê bai nét ngoại hình của người khác, trong buổi kén chồng có lẽ ai cùng khó chịu. Hình ảnh vua chích chòe với cằm hơi cong như mỏ con chích chòe bị công chúa chế diễu thật đáng thương. Chi tiết ấy khiến tôi liên tưởng đến hiện tượng miệt thị cơ thể người khác đã và đang là vấn nạn nhức nhối trong xã hội suốt thời gian qua. Chúng ta đều vô tình hoặc cố ý trở thành nạn nhân của hiện tượng này. Miệt thi, chê bai cơ thể người khác là hình thức dùng ngôn ngữ để chê bai, chế giễu về ngoại hình của người khác, khiến họ cảm thấy khó chịu hoặc bị xúc phạm. Đó có thể là miệt thị thân hình, làn da, màu da, khuôn mặt hay làn da trên khuôn mặt Trong đó, Trang 9
  10. phổ biến nhất là miệt thị về cân nặng như bị chê bai vì quá gầy hay quá mập, béo phì. Nếu bạn nghĩ rằng, chỉ có những người mập, béo, thân hình quá cỡ mới bị miệt thị, chê bai thì bạn đã lầm to rồi! Hiện nay, ai cũng có thể trở thành nạn nhân của hiện tượng miệt thị, chê bai cơ thể : bạn, tôi, những người khuyết tật, người không có ngoại hình đẹp, những người nổi tiếng Ai cũng có thể là nạn nhân củahiện tượng này.Thậm chí khi bạn rất bình thường vẫn cứ bị chê bai, miệt thị về những nét ngoại hình vì người ta thấy bạn không vừa mắt. Họ sẽ tìm mọi cách “vạch lá tìm sâu” để tìm ra bằng được điểm xấu của bạn. Mạng xã hội là nơi hiện tượng trên tung hoành. Đặc biệt, với sự phát triển của Internet, các mạng xã hội như Facebook, Twitter, Instagram đã trở thành nơi lý tưởng cho việc chê bai, miệt thị ngoại hình người khác. Người ta có thể ngang nhiên miệt thị, công kích người khác mà không phải chịu trách nhiệm gì. Thậm chí, có những kẻ còn coi đó là thú vui giải trí của mình. Đây là những “anh hùng bàn phím” đầy rẫy trên mạng cần phải tránh xa. Hậu quả của hiện tượng miệt thi, chê bai ngoại hình của người khác là rất lớn. Nạn nhân thường cảm thấy tự ti về ngoại hình. Liên tục đối mặt với nhiều sự chỉ trích về ngoại hình hàng ngày, sẽ khiến nhiều người rơi vào tình trạng nhút nhát, tự ti, dễ bị tổn thương về tâm hồn. Nhất là ở giai đoạn tuổi dậy thì, tâm lý nhạy cảm thì những câu nói đùa ác ý cũng có thể khiến họ trở nên mặc cảm, trầm cảm, thậm chí tìm đến cái chết. Người bị chê bai khiến ta luôn sống trong bóng tối tự ti. Lúc đầu, các nạn nhân chỉ cảm thấy buồn bã, thất vọng, nhưng lâu dần sẽ tạo nên áp lực, tổn thương nặng nề về thể xác và tinh thần. Họ sẽ bị ám ảnh và dần dần tin tưởng vào những lời chỉ trích của người xung quanh về ngoại hình của bản thân mà dẫn đến suy sụp tinh thần hoàn toàn. Ví dụ, người bị chê béo quá thường tìm cách giảm cân bằng chế độ ăn kiêng quá đà như nhịn ăn hoặc dùng các loại thuốc giảm cân kém chất lượng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, sự trao đổi chất của cơ thể bị chậm lại, làm mất cơ thay vì mỡ, hại gan thận Theo các nghiên cứu thì cứ hai người lại có một người không hài lòng về cơ thể của mình, nghĩa là một nửa thế giới tự ti về ngoại hình. Bản thân những kẻ hay chỉ trích người khác cũng thường xuyên thấy mặc cảm về diện mạo của mình. Có lẽ rất khó để bỏ ngoài tai mọi lời nhận xét tiêu cực về ngoại hình nhưng nếu bạn biết cách yêu thương bản thân thì bạn sẽ tiếp nhận mọi thứ nhẹ nhàng hơn. Dù bạn là người mũm mĩm, dễ tăng cân hay người gầy gò, khó tăng cân thì cũng không sao cả, miễn là bạn đã nỗ lực để hoàn thiện chính mình. Nói rõ cảm giác của bạn. Đôi khi những lời nhận xét không hay về ngoại hình chỉ là một trò đùa. Nếu là người thân, bạn bè thì bạn nên nói rõ rằng mình cảm thấy không vui hay khó chịu. Có thể họ không biết những lời nói đùa lại làm bạn thấy tồi tệ như thế nào. Nếu những người thực sự quan tâm, yêu thương bạn thì họ sẽ không lặp lại điều đó nữa. Vì vậy, cần suy nghĩ thật kỹ trước khi đưa ra bất cứ lời bình luận về ngoại hình của người khác cũng như phải mạnh mẽ đối mặt, đừng để lời chê bai, miệt thị ngoại hình của bạn khiến bạn tổn thương nhé. Trang 10
  11. Đề số 3: Từ văn bản Cô bé bán diêm của nhà văn An- đec- xen, viết bài văn suy nghĩ về một hiện tượng trong đời sống được gợi ra từ văn bản. 1. Lập dàn ý: sắp xếp các thông tin và ý tưởng theo một trật tự phù hợp. – Mở bài: Giới thiệu tên sách (tác phẩm văn học), tác giả và hiện tượng đời sống mà câu chuyện gợi ra. (vô cảm) – Thân bài: + Nêu ý kiến (suy nghĩ) về hiện tượng mắc bệnh vô cảm: là hiện tượng phổ biến, đáng lên án + Nêu lí lẽ và bằng chứng để làm rõ ý kiến về hiện tượng bệnh vô cảm ( chỉ ra các biểu hiện của hiện tượng bệnh vô cảm; nguyên nhân; hậu quả và cách khắc phục khi gặp hiện tượng) + Trình bày cụ thể về chi tiết, sự việc, nhân vật gợi lên hiện tượng vô cảm – Kết bài: Khẳng định quan điểm chê bai chế nhạo ngoại hình của người khác là hành vi xấu, cần loại bỏ 2. Viết bài a. Mở bài: Trong chương trình ngữ văn lớp 6, em đã được học nhiều tác phẩm văn học đặc sắc, mỗi tác phẩm đều để lại trong em một ấn tượng khó phai. Nhưng có lẽ, điều ám ảnh em hơn cả là hình ảnh cô bé bán diêm với cái chết đau thương ở cuối câu chuyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn An-đéc-xen. Hình ảnh cô bé chết vì giá rét khiến em liên tưởng và suy nghĩ về lối sống vô cảm hiện nay. Đây là một hiện tượng đáng lo lắng. b. Thân bài: (Sử dụng lí lẽ và bằng chứng để làm sáng tỏ hiện tượng bệnh vô cảm) * Giải thích căn bệnh vô cảm trong cuộc sống - Vô cảm: căn bệnh này có thể hiểu là sự thờ ơ, không quan tâm đến những sự vật, sự việc xung quanh mình, thờ ơ với nỗi đau, với mảnh đời bất hạnh mà mình chứng kiến - Gắn với tác phẩm: Em không quên được hình ảnh cô bé đầu trần, chân đất, bụng đói, dò dẫm trong đêm tối. Mọi người vô tình lướt qua em, chẳng ai đoái hoài đến. Không ai bố thí cho em một chút gì. * Biểu hiện (thực trạng) của căn bệnh vô cảm trong cuộc sống - Căn bệnh vô cảm ngày càng phổ biến, lan rộng trong xã hội (gắn với cuộc sống) + Thờ ơ, vô cảm với những hiện tượng trái đạo lí, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội: Hiện tượng livestream trên mạng xã hội (hiện tượng học sinh cấp 2 tại Hải Dương), bắt gặp hiện tượng trộm cắp thì im lặng coi như không biết + Thờ ơ, vô cảm với những nỗi buồn, nỗi đau của chính những người đồng bào: Gặp người tai nạn bị tai nạn giao thông xúm vào bàn bạc, quay phim, chụp ảnh. Bỏ qua những lời kêu gọi giúp đỡ của đồng bào miền Trung bão lũ, +Thờ ơ, vô cảm với những vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước: Thờ ơ với những cảnh đẹp quê hương, thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh tại các điểm du lịch + Thờ ơ, vô cảm với chính cuộc sống của bản thân mình: Hiện tượng học sinh đi học muộn, không chú ý học tập. Hiện tượng sinh viên thức rất khuya sử dụng smartphone, thể hiện sự thờ ơ với chính sức khỏe của bản thân Trang 11
  12. * Phân tích nguyên nhân (Nguyên nhân nào khiến nhiều người trở thành vô cảm mà không hay biết?) - Sự phát triển nhanh chóng của cuộc sống khiến con người phải sống nhanh hơn, không còn thời gian để ý tới những gì xung quanh - Sự bùng nổ mạnh mẽ của những thiết bị thông minh dẫn đến sự ra đời của các trang mạng xã hội ⇒ con người ngày càng ít giao tiếp trong đời thực - Sự chiều chuộng, chăm sóc, bao bọc quá kĩ lưỡng cha mẹ đối với con cái ⇒ coi mình là trung tâm, không để ý đến điều gì khác nữa - Sự ích kỉ của chính bản thân mỗi người * Tác hại của hiện tượng (Hiện tượng vô cảm đã gây tác động đến cuộc sống của con người như thế nào?) - Hậu quả vô cùng to lớn: con người mất đi những chỗ dựa mỗi lúc khó khăn, xã hội tràn đầy những điều xấu, điều ác - Xa hơn, con người đánh mất đi những giá trị người tốt đẹp của dân tộc, ảnh hưởng, làm lệch lạc những suy nghĩ của thế hệ tương lai. * Đề xuất các giải pháp phù hợp (Mỗi người sống trên Trái Đất này cần suy nghĩ và hành động ra sao để cuộc sống không còn cảnh tượng đau thương như trong truyện Cô bé bán diêm của An-đec-xen ?) - Lên án, phê phán những hành vi tiêu cực, thờ ơ vô cảm đối với đời sống xung quanh - Hạn chế phụ thuộc vào các thiết bị thông minh, thế giới ảo - Rèn luyện lối sống lành mạnh: Yêu thương, quan tâm, giúp đỡ mọi người, tham gia các hoạt động tình nguyện vì môi trường, vì con người. Lắng nghe, chia sẻ với mọi người, nhất là với người thân, bạn bè,.. - Tăng cường thực hành, trải nghiệm thực tiễn, học cách yêu thương, chia sẻ c. Kết bài Cuốn truyện cổ của nhà văn An- đéc- xen nói chung và câu chuyện Cô bé bán diêm nói riêng cho em hiểu về ý nghĩa của tình yêu thương trong cuộc sống. Em tự nhủ để không vô cảm với nỗi đau của người khác, mỗi chúng ta hãy học cách sống yêu thương. Trang 12