Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động

docx 29 trang baigiangchuan 06/03/2026 110
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxdoi_moi_van_dung_phuong_phap_dong_vai_vao_day_hoc_mon_ngu_va.docx

Nội dung text: Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động

  1. SỞ GD&ĐT BẮC GIANG TRƯỜNG PT DTNT SƠN ĐỘNG -------o0o------- SÁNG KIẾN “ Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động” Tên Tác giả: Hoàng Thị Cúc Chức danh: GV - THPT Hạng III Tổ chuyên môn: KHXH Đơn vị công tác: Trường PTDTNT Sơn Động Năm học áp dụng: 2023 – 2024 Sơn Động, MỤC tháng LỤC 3 năm 2024
  2. 1 TIÊU ĐỀ TRANG THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN 2 SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến 2 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử 2 3. Các thông tin bảo mật 2 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm 2 5. Sự cần thiết phải áp dụng các giải pháp sáng kiến 3 6. Mục đích của giải pháp sáng kiến 5 7. Nội dung 5 7.1. Thuyết minh về giải pháp (cải tiến) 5 7.1.1. Tên giải pháp 5 7.1.2. Nội dung 5 7.1.3. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp 6 7.1.3.1. Vận dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức đóng vai 6 7.1.3.2. Chú trọng bước thảo luận sau phần “diễn” (đóng vai) 10 7.1.4. Kết quả khi thực hiện giải pháp 10 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến 15 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến 16 PHỤ LỤC 19
  3. 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động” 2. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: tháng 04/10/ 2023 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm: - Mô tả giải pháp thường làm trước khi áp dụng sáng kiến mới: Trong nhiều năm trở lại đây, thực hiện chỉ đạo về đổi mới dạy và học, các PPDH tích cực, trong đó có PPDH đóng vai đã được áp dụng trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn. Tuy nhiên, do nhiều lí do, việc thực hiện đó chưa thực sự đạt được hiệu quả: - Hình thức đóng vai chủ yếu là “kịch bản hóa” và chủ yếu các tác phẩm tự sự; GV là người cung cấp kịch bản, theo ý đồ của người dạy. HS đóng vai, tái hiện lại nhân vật trong tác phẩm. Thực tế, hình thức này thường được áp dụng trong hoạt động vận dụng, thực hành sau khi HS đã học xong về tác phẩm – Đi ngược lại bản chất của PPDH đóng vai. - Bước thảo luận sau khi “đóng vai” chưa được chú trọng hoặc được thực hiện chưa hiệu quả. Việc đóng vai mới chỉ dừng lại ở hình thức “diễn”, tình huống đóng vai chưa được sử dụng khai thác hiệu quả để từ đó giúp HS chiếm lĩnh kiến thức về bài học. Vì vậy, mặc dù đã có tác động tích cực đến người học, góp phần làm thay đổi không khí giờ học tạo giúp HS hào hứng hơn nhưng xét đến cùng, cách thực hiện PPDH đóng vai như trên chưa khai thác, phát huy đúng hiệu quả của PPDH đóng vai. Về lý thuyết, những giờ học đó đã áp dụng đổi mới PPDH nhưng về cốt lõi, HS vẫn là đối tượng được truyền đạt kiến thức từ GV, chưa tích cực, chủ
  4. 3 động trong học tập, chưa có nhiều cơ hội bộc lộ hết khả năng sáng tạo; GV thì làm việc quá nhiều nhưng hiệu quả dạy học chưa cao. Về học sinh, Theo xu hướng chọn trường, chọn nghề hiện nay, học sinh một số trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Động có lực học khá đa số chọn môn tự nhiên để học. Nhìn chung, các em có lực học trung bình khá, rất ít em có học lực giỏi, nhiều em chưa có thái độ tích cực, chưa có niềm say mê, hứng thú với môn học Ngữ văn. Mặt khác, do quá trình chiếm lĩnh kiến thức còn diễn ra thụ động nên kiến thức HS học được chưa thực sự có chiều sâu. HS chủ yếu học thuộc, học “vẹt” nên nhanh quên. Bởi vậy, kết quả học tập môn Ngữ văn chưa cao. Học sinh trên địa bàn huyện Sơn Động nói chung, các lớp tôi phụ trách nói riêng chủ yếu là con em các gia đình ở nông thôn thuộc các thôn bản của các xã đặc biệt khó khăn. Vì vậy, điều kiện tiếp xúc với công nghệ và các phương tiện, thiết bị hiện đại bị giới hạn. Đây là hạn chế không nhỏ khiến việc triển khai, thực hiện PPDH đóng vai gặp khó khăn. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp sáng kiến Như chúng ta đã biết, Phương pháp dạy học tích cực được ứng dụng rộng rãi tại nhiều trường học không chỉ ở Việt Nam mà còn ở cả các quốc gia trên thế giới. Nó mang lại hiệu quả cao trong công tác dạy và học, thúc đẩy sự sáng tạo, tính chủ động và phát huy tính tích cực của quá trình nhận thức ở các em học sinh. Từ thực tiễn giảng dạy tại trường, tôi thấy rằng để đạt hiệu quả cao trong mỗi phần học, tiết học cần có cách thiết kế bài giảng cho phù hợp với nội dung kiến thức; Phương pháp, phương tiện dạy học phải phù hợp với từng đối tượng học sinh. Để qua mỗi phần học, tiết học, học sinh hứng thú hơn và từ đó tiếp thu được kiến thức mới. Việc xác định nội dung kiến thức cơ bản của bài giảng là một khâu rất quan trọng, nhưng chuyển nội dung đó thành tri thức của bản thân học sinh là khoa học và nghệ thuật. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp giảng dạy của giáo viên. Hiện nay có rất nhiều phương pháp dạy học khác nhau áp dụng cho từng đối tượng học sinh và từng bài giảng.Mỗi phương pháp và kĩ thuật đều có
  5. 4 những điểm mạnh và điểm yếu, phục vụ cho những mục đích khác nhau. Không một phương pháp nào là vạn năng và sử dụng trong toàn bộ quá trình dạy học, mà tùy vào nội dung bài giảng mà ta có thể phối hợp đa dạng các phương pháp và kĩ thuật. Cùng với sự đổi mới của chương trình giáo dục, trường Phổ thông DTNT Sơn Động cũng không ngừng thay đổi phương pháp dạy và học để đáp ứng nhu cầu của thời đại. Nhưng trong quá trình giảng dạy, thầy và trò nhà trường gặp không ít những khó khăn trong việc dạy học như thế nào để có hiệu quả, tạo hứng thú cho học sinh với môn Ngữ văn, việc linh hoạt trong việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực Kết quả khảo sát đầu năm cho thấy học sinh chưa hứng thú nhiều với môn học, tỉ lệ học sinh đạt điểm khá giỏi còn thấp. Rất hứng Không Hứng thú Bình thường Đơn vị Sĩ số thú hứng thú SL % SL % SL % SL % Trường THPT Sơn 31 5 16.1 8 25.8 14 45.2 4 12.9 Động số 1 ( Lớp 12A3) Trường THPT Sơn 32 7 21.9 9 28.1 13 40.6 3 9.4 Động số 2 ( Lớp 12A1) Trường PTDTNT Sơn 35 6 17.1 11 31.4 15 42.9 3 8.6 Động (Lớp 12A) Tổng 98 18 18.3 28 28.6 42 42.9 10 10.2 Qua thực tiễn giảng dạy, qua quá trình tự tìm tòi, học tập của bản thân, qua việc dự giờ đồng nghiệp.., tôi thấy PPDH đóng vai có thể phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở người học. Đồng thời, phương pháp này còn khơi gợi hứng thú khi học bộ môn Văn. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng vào thực tiễn giảng dạy, ngoài những ưu điểm đạt được thì tôi nhận thấy còn những điểm hạn chế cần khắc phục của phương pháp này; Nên tôi đã mạnh dạn đổi mới,
  6. 5 sáng tạo trong việc vận dụng PPDH đóng vai vào giảng dạy bộ môn Ngữ văn sao cho phù hợp với đặc trưng môn học, điều kiện thực tiễn của giáo viên và đối tượng học sinh. Xuất pháp từ lý do trên, tôi đã thực hiện sáng kiến với giải pháp “ Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động” để khắc phục những hạn chế của phương pháp này và giúp học sinh hứng thú hơn với môn học, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy. Và thực tế, PPDH đóng vai đã được tôi vận dụng khá thành công với các lớp dạy của mình 6. Mục đích của giải pháp Giải pháp mà bản thân tôi hướng đến qua việc sử dụng phương pháp dạy học đóng vai trong giờ dạy của mình chính là khơi dậy khả năng tư duy, tính tích cực sáng tạo của học sinh. Thông qua đóng vai HS được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trước một tình huống “giả định” đặt ra trong tác phẩm, học sinh thêm hứng thú học tập, mong muốn được thể hiện mình. Từ đó tạo điều kiện làm bộc lộ, phát triển óc sáng tạo của học sinh cũng như rèn luyện kĩ năng sống như sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác .Đồng thời giáo viên rèn thêm về kĩ năng chuyên môn, về sử dụng PPDH đóng vai trong dạy học Ngữ Văn để từ đó nâng cao năng lực chuyên môn của mình. 7. Nội dung: 7.1. Thuyết minh về giải pháp (cải tiến) 7.1.1. Tên giải pháp: “Đổi mới vận dụng phương pháp đóng vai vào dạy học môn Ngữ văn lớp 12 để nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 12 trên địa bàn huyện Sơn Động” 7.1.2. Nội dung: Nâng cao chất lượng học tập cho học sinh lớp 12 thông qua việc vận dụng sáng tạo, linh hoạt phương pháp dạy học đóng vai vào các giờ học Ngữ văn.
  7. 6 7.1.3. Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: PPDH đóng vai mà tôi áp dụng dưới đây không phải là giải pháp mới hoàn toàn bởi đã có rất nhiều người nghiên cứu, xây dựng và đưa ra những cách thức thực hiện khác nhau. Tuy nhiên trong sáng kiến của mình tôi đã có những đổi mới, sáng tạo trong việc vận dụng PPDH đóng vai như sau: 7.1.3.1. Vận dụng linh hoạt, đa dạng các hình thức đóng vai Đóng vai là PP tổ chức cho HS thực hành để trình bày những suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là PPDH giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà HS quan sát được từ vai của mình. Quy trình thực hiện của PPĐV gồm 4 bước: Bước 1: GV nêu chủ đề, giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai Bước 2: Học sinh suy nghĩ, thảo luận để thực hiện nhiệm vụ đóng vai Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả đóng vai (Những học sinh còn lại sẽ quan sát, theo dõi và ghi chép vào phiếu học tập hoặc phiếu đánh giá nhận xét). Bước 4: GV tổ chức thảo luận, nhận xét. GV đưa ra kết luận và định hướng cho HS về cách ứng xử phù hợp nhất với tình huống được đưa ra. Tùy từng nội dung, từng bài học mà giáo viên có thể cho HS thực hiện việc đóng vai trực tiếp (tại lớp, 4 bước trên được thực hiện trong cùng tiết học và tiến hành đan xen với hoạt động lên lớp khác) hoặc đóng vai theo dự án (Quy trình bắt đầu từ cuối tiết học trước, hoặc tiết học đầu tiên của bài học có nhiều tiết lên lớp hoặc trước khi bắt đầu bài học 1 tuần) Các hình thức của PPDH đóng vai cũng khá đa dạng: Đóng vai nhân vật, đóng vai tác giả, đóng vai “giả định”, mỗi hình thức lại có ưu điểm và hạn chế riêng. Vì vậy, căn cứ tình hình thực tiễn, tôi đã vận dụng một cách linh hoạt, đa dạng PPDH đóng vai vào từng hoạt động dạy học, từng đối tượng HS để tránh sự nhàm chán và đạt được hiệu quả cao trong giảng dạy môn Ngữ văn. a. Đóng vai nhân vật ♦ Đóng vai nhân vật tái hiện
  8. 7 Đây là hình thức đóng vai có thể vận dụng hiệu quả với tất cả các đối tượng HS. Tuy nhiên, trong hình thức đóng vai nhân vật tái hiện, tôi hạn chế sử dụng qui trình đóng vai trực tiếp. Bởi hình thức này dễ gây nhàm chán; tính sinh động, hấp dẫn bị giới hạn do hạn chế về không gian, thời gian, đạo cụ; không phát huy được tính sáng tạo của HS vì hầu hết kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa, chưa thực sự tạo cho HS một sân khấu để các em có thể thể hiện hết mình. Vì vậy, thay vì thực hiện qui trình đóng vai trực tiếp, tôi hướng dẫn HS thực hiện qui trình đóng vai dự án. Theo cách này, tôi thường giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm trước khi tiến hành bài học 1 tuần nên HS có thời gian chuẩn bị, không bị giới hạn về không gian, thời gian và có sự chuẩn bị chu đáo về việc hóa trang, đạo cụ, bối cảnh nên sản phẩm đóng vai hấp dẫn, chân thực, sáng tạo hơn rất nhiều. HS báo cáo bằng trình chiếu video đã thực hiện nên không tốn thời gian chuẩn bị trực tiếp trong giờ học. Đồng thời, qua hình thức này, HS được rèn luyện kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin, kỹ năng hợp tác ( Phụ lục 1) ♦ Đóng vai (nhân vật) suy luận Đây là hình thức tôi thường sử dụng trong các giờ học tác phẩm tự sự. HS được đặt mình vào vị trí nhân vật trong tình huống “có vấn đề” để hình dung thái độ, phản ứng, hành động, trước các sự việc, tình huống nào đó. Dạng thức “nêu vấn đề” đóng vai của GV thường đặt ra dưới dạng câu hỏi “nêu vấn đề” như: Nếu em là nhân vật A, em sẽ hành động như thế nào trong hoàn cảnh đó? Lí giải? Ví dụ: Khi dạy tác phẩm: “ Rừng xà nu” của tác giả Nguyễn Trung Thành, giáo viên có thể đưa ra yêu cầu để học sinh đóng vai: Nếu em là nhân vật Tnú, em sẽ hành động như thế nào khi bị bọn giặc tẩm dầu xà nu để đốt mười đầu ngón tay? Từ việc hóa thân đó, em thấy được phẩm chất đáng quý nào của nhân vật? Hình thức đóng vai này kích thích sự tìm tòi, suy luận, sáng tạo, rèn luyện tư duy logic của HS. Đồng thời, GV có điều kiện để hiểu HS của mình hơn, dễ uốn nắn những kỹ năng xử lý tình huống, phần nào giúp các em định hình được cảm xúc, hành vi của mình trong thực tiễn. Đây là hình thức mà GV có thể tích
  9. 8 hợp giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng làm văn nghị luận xã hội về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy, đây là hình thức đóng vai mà nếu áp dụng cho tất cả các đối tượng HS thì sẽ không hiệu quả, nhất là với đối tượng HS trung bình, yếu. Vì vậy, tôi chỉ áp dụng hình thức đóng vai nhân vật suy luận với những lớp mà HS có tư duy logic, có suy luận hợp lý, sáng tạo.Trong những tình huống đóng vai đó, giờ học thực sự sôi nổi bởi những lí giải, phản biện sắc sảo của HS. b. Đóng vai tác giả Hình thức đóng vai tác giả là một trong những điều kiện để giúp HS gần hơn, hiểu hơn về tác giả, vừa cảm nhận giọng điệu riêng của tác giả qua tác phẩm, vừa tạo được hiệu quả “đồng sáng tạo” với tác giả ở HS. Hình thức đóng vai này thường được tổ chức dưới dạng cuộc trao đổi, phỏng vấn tác giả về tác giả tác phẩm (áp dụng trong phần tìm hiểu chung) hoặc giả định là tác giả để lí giải về nhân vật, tình huống: “Nếu em là tác giả, em sẽ (hãy), ”, “Hóa thân vào tác giả, lí giải vì sao lại để cho nhân vật hành động như vậy?” (áp dụng cho phần tìm hiểu về nhân vật), hoặc giả định là tác giả để viết tiếp câu chuyện/cái kết khác cho câu chuyện (áp dụng cho hoạt động vận dụng, thực hành) Ví dụ 1: Khi dạy tác phẩm: “ Việt Bắc” của tác giả Tố Hữu, trong phần tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm, giáo viên tổ chức cho học sinh đóng vai dưới dạng một cuộc phỏng vấn về tiểu sử tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ để từ đó tạo được hiệu quả “đồng sáng tạo” với tác giả ở học sinh và giúp học sinh hiểu sâu về tác giả và hoàn cảnh ra đời tác phẩm. (Phụ lục 1) Ví dụ 2: Khi dạy tác phẩm: “Vợ chồng A Phủ” của tác giả Tô Hoài, giáo viên có thể đưa ra yêu cầu: Hãy hóa thân vào tác giả Tô Hoài, lý giải vì sao lại để cho nhân vật Mị cắt dây trói cứu A Phủ và giải thoát cuộc đời mình? (Phụ lục) Với hình thức đóng vai này, HS rất hào hứng vì các em được trải nghiệm nhập vai nhà văn, thỏa sức sáng tạo theo trí tưởng tượng của mình, “lấp đầy” những chỗ mà bản thân các em cảm thấy chưa “thỏa mãn” ở tác phẩm. Đối với hình thức hóa thân này, không khí lớp học rất vui vẻ, sôi nổi.
  10. 9 Tuy nhiên, những tình huống đóng vai nhà văn nhằm lí giải, khơi gợi sự “đồng sáng tạo” ở người học chỉ phù hợp với HS có năng lực cảm thụ, sáng tạo, có năng khiếu văn chương. Vì vậy, tôi cũng chỉ áp dụng hình thức đóng vai nhà văn (ở các nội dung lí giải về tâm trạng, cảm xúc, hành động của nhân vật, hoặc nhập vai nhà văn, viết tiếp câu chuyện...) đối với những HS khá, giỏi. Còn đối với những HS trung bình, tôi vận dụng hình thức đóng vai tác giả ở phần tìm hiểu chung về tác giả, tác phẩm dưới dạng một cuộc trao đổi, phỏng vấn nhà văn. c. Đóng vai “giả định” Đóng vai “giả định” cũng là một hình thức nhập vai, hóa thân nhưng không phải thành nhân vật hay nhà văn mà là một nhân vật khác do người dạy hoặc người học sáng tạo ra từ nội dung bài học. GV tạo ra các vai diễn “giả định” hoặc gợi ý để học sinh sáng tạo ra các vai diễn “giả định” trong một tình huống “giả định” giúp HS bộc lộc sự sáng tạo, rèn luyện kĩ năng trên cơ sở huy động kiến thức về tác phẩm và hiểu biết về đời sống xã hội. Trong thực tiễn giảng dạy, để phát huy hiệu quả của hình thức đóng vai “giả định”, tôi đã vận dụng linh hoạt tùy từng đối tượng HS. Với những lớp phần lớn là HS trung bình, tôi tạo tình huống đóng vai “giả định” để HS bộc lộ sự sáng tạo trong việc giải quyết vấn đề thực tiễn như: Nếu em là cán bộ hội phụ nữ, em sẽ làm gì để góp phần ngăn chặn tình trạng bạo lực gia đình?... Bên cạnh đó, với những lớp HS năng động, kỹ năng tốt, tôi còn cho HS nhập vai giáo viên môn văn để giảng về một nội dung nhỏ của bài học trong giờ học ôn tập. Thay vì ôn tập, kiểm tra nội dung kiến thức theo hình thức thuyết giảng, phát vấn nhàm chán, HS được “hóa thân” thử sức với một vị trí, một vai mới mẻ, hoàn toàn khác mà có thể bình thường các em rất tò mò. Qua tình huống đóng vai này, HS vừa thể hiện được kiến thức, vừa được “thử” khả năng của mình; đồng thời, từ vị trí GV “giả định”, HS cũng có cơ hội thấu hiểu hơn về những cái “khó” của một nGV đứng lớp, từ đó, khơi gợi sự sẻ chia, đồng cảm thực sự của HS với công việc của GV. Ngược lại, GV sẽ đánh giá HS một cách toàn diện hơn, có những phát hiện mới mẻ, thú vị hơn về khả năng của từng HS.
  11. 10 7.1.3.2. Chú trọng bước thảo luận sau phần “diễn” (đóng vai). Để vận dụng đúng bản chất và phát huy tối đa hiệu quả của PPDH đóng vai, tôi đặc biệt chú ý thực hiện tốt bước thảo luận sau khi “đóng vai” – Điều mà trước đây chưa được chú trọng hoặc thực hiện chưa hiệu quả khiến PPDH đóng vai mới chỉ dừng lại ở việc “diễn”, mang tính hình thức. Quy trình thực hiện cụ thể như sau: Bước 1: GV nêu chủ đề, giao tình huống và yêu cầu đóng vai cho HS. Trong đó quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai Bước 2: Học sinh suy nghĩ, thảo luận để thực hiện nhiệm vụ đóng vai Bước 3: Học sinh báo cáo kết quả đóng vai (Những học sinh còn lại sẽ quan sát, theo dõi và ghi chép vào phiếu học tập hoặc phiếu đánh giá nhận xét). Bước 4: GV tổ chức thảo luận, nhận xét: - HS tự đánh giá, phát biểu về “vai diễn” của mình. - Những HS khác nhận xét về việc thực hiện nhiệm vụ “đóng vai” của HS (Nhận xét trực tiếp và nhận xét, đánh giá bằng phiếu đánh giá chéo) - Từ tình huống “đóng vai” đó, GV tiến hành hướng dẫn HS khai thác, chiếm lĩnh các nội dung kiến thức của bài học bằng bộ câu hỏi phù hợp. - GV đưa ra kết luận và định hướng cho HS về cách ứng xử phù hợp nhất với tình huống được đưa ra. Với việc chú trọng vào bước thảo luận, đánh giá, tình huống “đóng vai” trở thành cơ sở mấu chốt để GV hướng dẫn, dẫn dắt HS khám phá, tiếp nhận tri thức về bài học chứ không phải là một hoạt động trải nghiệm đơn thuần, rời rạc với quá trình lĩnh hội tri thức. Vì vậy, cách làm này buộc người học phải coi hoạt động đóng vai là một phần của quá trình chiếm lĩnh tri thức, chủ động thực sự trong hoạt động học. ( Phụ lục 1) 7.1.4. Kết quả thực hiện giải pháp: Qua quá trình vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo PPDH đóng vai trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy những thay đổi tích cực ở cả GV và HS: ♦ Đối với giáo viên: - PPDH đóng vai tác động tích cực, làm thay đổi cái nhìn của bản thân tôi về hoạt động dạy học: Công việc dạy học không còn đơn điệu, nhàm chán nữa mà thực sự trở thành một hoạt động sáng tạo của cả GV và HS.
  12. 11 - Giúp tôi có thể phát hiện được những khả năng tiềm ẩn và cả những hạn chế của HS để khuyến khích, phát huy hoặc khắc phục, hóa giải. - PPDH đóng vai giúp tăng cường sự tương tác giữa GV và HS trong quá trình học, rút ngắn khoảng cách giữa GV và HS khiến không khí giờ học trở nên thân thiện hơn, HS không còn quá e ngại trong việc thể hiện, bộc lộ trước GV. - Quá trình đổi mới PPDH đóng vai nói riêng, các PPDH tích cực khác nói chung giúp tôi có được những kết quả đáng mừng trong công tác giảng dạy: Được HS yêu quý, hứng thú với những giờ học văn của bản thân; HS có kết quả học tập môn Ngữ văn tiến bộ rõ rệt; nâng cao uy tín của bản thân trước đồng nghiệp. ♦ Đối với đồng nghiệp: - Những kết quả mà bản thân tôi đạt được trong việc vận dụng PPDH tích cực đã góp phần thúc đẩy phong trào đổi mới sáng tạo không ngừng trong công tác giảng dạy của đồng nghiệp cùng bộ môn, cùng tổ xã hội. - Từ đó, quá trình tự học, tự bồi dưỡng, quá trình trao đổi, trau dồi chuyên môn mỗi cá nhân GV diễn ra hiệu quả, thiết thực hơn. ♦ Hiệu quả đối với học sinh: - Việc vận dụng PPDH đóng vai trong môn Ngữ văn nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được phẩm chất trách nhiệm, trung thực, chăm chỉ cho HS. Bên cạnh đó, đóng vai là PP rất hiệu quả trong việc giúp HS rèn luyện kĩ năng sống như sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác . - Qua đóng vai, HS có điều kiện ứng dụng lý thuyết, nguyên tắc đã học vào thực tế sinh động, đa dạng mà HS sẽ tiếp xúc sau này. HS được rèn luyện, thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trước một tình huống “giả định” đặt ra trong tác phẩm. - PPDH đóng vai là một trong những hình thức “Trả tác phẩm về cho học sinh”, đem đến hứng thú học tập, lôi cuốn sự chú ý của các em vào bài học. Phương pháp này đem đến cho các em mong muốn được thể hiện mình, muốn sáng tạo, tạo điều kiện làm bộc lộ, phát triển óc sáng tạo của học sinh. - Để thấy rõ hiệu quả và tính khả thi của đề tài, tôi đã tiến hành so sánh kết quả khảo sát về sự hứng thú đối với môn Ngữ văn của học sinh ở các lớp thực
  13. 12 nghiệm trước và sau khi áp dụng sáng kiến (mẫu phiếu khảo sát, phụ lục 2). Kết quả khảo sát bằng phiếu khảo sát và phỏng vấn nhanh cũng cho thấy HS có hứng thú hơn nhiều đối với môn học Ngữ văn. Đặc biệt, nhiều HS còn chủ động đề nghị được thường xuyên học tập bằng PP đóng vai: Bảng 1.1: Khảo sát mức độ hứng thú học tập môn Ngữ văn trước khi áp dụng sáng kiến Rất hứng Không Sĩ Hứng thú Bình thường Đơn vị thú hứng thú số SL % SL % SL % SL % Trường THPT Sơn 31 5 16.1 8 25.8 14 45.2 4 12.9 Động số 1 ( Lớp 12A3) Trường THPT Sơn 32 7 21.9 9 28.1 13 40.6 3 9.4 Động số 2 ( Lớp 12A1) Trường PTDTNT Sơn 35 6 17.1 11 31.4 15 42.9 3 8.6 Động (Lớp 12A) Tổng 98 18 18.3 28 28.6 42 42.9 10 10.2 Bảng 1.2: Khảo sát mức độ hứng thú học tập môn Ngữ văn sau khi áp dụng sáng kiến Rất hứng Hứng Bình Không Đơn vị Sĩ số thú thú thường hứng thú SL % SL % SL % SL % Trường THPT Sơn 31 8 25.8 15 48.4 7 22.6 1 3.2 Động số 1 ( Lớp 12A3) Trường THPT Sơn 32 13 40.6 13 40.6 5 15.7 1 3.1 Động số 2 ( Lớp 12A1) Trường PTDTNT Sơn 35 12 35.3 16 44.1 6 17.7 1 2.9 Động (Lớp 12A) Tổng 98 33 33.7 44 44.9 18 18.4 3 3.0 Để trực quan hơn, tôi đã tiến hành chuyển bảng số liệu 1.1 và 1.2 sang dạng biểu đồ cột như sau:
  14. 13 Biểu đồ 1: Khảo sát mức độ hứng thú môn Ngữ văn Nhìn vào bảng số liệu và biểu đồ trên, có thể nhận thấy sau khi áp dụng sáng kiến, số học sinh cảm thấy hứng thú và rất hứng thú với các giờ học Ngữ văn đã tăng lên, từ 46.9% tăng lên 78.6%. Rõ ràng việc áp dụng hình thức vận dụng trình bày ở phần trên đã có sự tác động tích cực đến học sinh, giúp các em thêm hứng thú, yêu thích môn học Ngữ văn. Ngoài ra, tôi còn tiến hành đánh giá sự tiến bộ trong việc học tập môn Ngữ văn của học sinh thông qua việc so sánh kết quả bài kiểm tra 15 phút lần 1 (trước khi áp dụng sáng kiến) và lần 3 (sau khi áp dụng sáng kiến) của học sinh, thu được kết quả như sau: Bảng 2.1: Khảo sát kết quả học tập môn Ngữ văn trước khi áp dụng sáng kiến
  15. 14 Trung Yếu – Giỏi Khá bình Kém (8.0-10.0 (6.5-7.9 (5.0-6.4 (<5.0 điểm) điểm) Đơn vị Sĩ số điểm) điểm) SL % SL % SL % SL % Trường THPT Sơn 31 10 32.3 12 38.7 7 22.6 2 6.4 Động số 1 ( Lớp 12A3) Trường THPT Sơn 32 13 40.6 9 28.1 9 28.1 1 3.2 Động số 2 ( Lớp 12A1) Trường PTDTNT Sơn 35 9 25.7 20 57.1 4 11.4 2 5.7 Động (Lớp 12A) Tổng 98 32 32.7 41 41.8 20 20.4 5 5.1 Bảng 2.2: Khảo sát kết quả học tập môn Ngữ văn sau khi áp dụng sáng kiến Trung Yếu – Giỏi Khá bình Kém (8.0-10.0 (6.5-7.9 (5.0-6.4 (<5.0 điểm) điểm) Đơn vị Sĩ số điểm) điểm) SL % SL % SL % SL % Trường THPT Sơn 31 19 61.3 10 32.3 2 6.4 0 0 Động số 1 ( Lớp 12A3) Trường THPT Sơn 32 16 50.0 13 40.6 3 9.4 0 0 Động số 2 ( Lớp 12A1) Trường PTDTNT Sơn 35 19 54.3 13 37.1 3 8.6 0 0 Động (Lớp 12A) Tổng 98 54 55.1 36 36.7 8 8.2 0 0
  16. 15 Tôi cũng đã tiến hành chuyển bảng số liệu 2.1 và 2.2 sang dạng biểu đồ hình tròn như sau: Trước khi áp dụng sáng kiến Sau khi áp dụng sáng kiến Biểu đồ 2. So sánh kết quả học tập môn Ngữ Văn trước và sau khi áp dụng sáng kiến Kết quả khảo sát đã là minh chứng cho sự tiến bộ của học sinh so với trước khi áp dụng giải pháp. Số học sinh đạt điểm Giỏi tăng từ 32.7% lên 55.1%; số học sinh có điểm Trung bình, Yếu – Kém giảm từ 25.5% xuống còn 8.2%. Như vậy, việc sử dụng PPDH đóng vai đã giúp học sinh hứng thú, chủ động hơn, giáo viên cũng có thể phát huy tính sáng tạo trong giảng dạy và đích cuối cùng là kết quả học tập của học sinh được nâng lên. Tuy nhiên để đạt kết quả tối ưu trong việc nâng cao chất lượng học tập môn Ngữ văn, giáo viên cần tổ chức linh hoạt, đa dạng các hình thức học tập để học sinh có thể nắm bắt, vận dụng nội dung kiến thức bài học vào thực tế cuộc sống một cách tốt nhất. 7.2. Thuyết minh về phạm vi áp dụng sáng kiến PPDH đóng vai đã được tôi cải tiến và sử dụng trong dạy học. Cụ thể, sáng kiến đã được áp dụng trong giảng dạy môn Ngữ văn đem lại hiệu quả thiết thực trong các giờ dạy học văn tại 3 đơn vị, lớp 12A trường PT DTNT Sơn Động, Lớp 12A3 trường THPT Sơn Động số 1, Lớp 12A1 trường THPT Sơn Động số 2 cho thấy sáng kiến có hiệu quả và có tính khả thi cao góp phần khắc phục những khó khăn trong dạy và học môn Ngữ văn trước đây.
  17. 16 Nhìn chung, Phương pháp đóng vai trong dạy học Ngữ văn có thể áp dụng cho tất cả các đối tượng HS. Tuy nhiên, ở một số hình thức đóng vai đòi hỏi tư duy sáng tạo, tư duy logic, GV cần cân nhắc để vận dụng cho phù hợp, hiệu quả. Bên cạnh đó, khi áp dụng cho HS thuộc ban tự nhiên, GV không nên sử dụng nhiều đóng vai theo qui trình dự án, tránh tình trạng tốn nhiều thời gian, ảnh hưởng đến việc học các môn khối của các em. Đối với học sinh học khối xã hội, cần vận dụng linh hoạt đa dạng các cách và các hình thức; đồng thời lưu ý về tần suất sử dụng để tránh nhàm chán và đạt hiệu quả dạy học tối ưu nhất. Bên cạnh đó, với những ưu thế vượt trội so với các PPDH khác, phương pháp đóng vai còn có thể dễ dàng áp dụng hiệu quả đối với các môn học khác như Địa lý, Lịch sử, giáo dục công dân. 7.3. Thuyết minh về lợi ích kinh tế, xã hội của sáng kiến Sáng kiến này đã đem lại một số lợi ích kinh tế, xã hội như sau: * Lợi ích kinh tế - Sáng kiến dễ áp dụng thực hiện, không mất thời gian, không tốn kém về tiền bạc, mang lại hiệu quả cao trong việc giảng dạy học tập bộ môn. Với Phương pháp này đôi khi trang phục, đạo cụ có thể thu thập từ cuộc sống hàng ngày như quần áo nông dân, bà ba, quần áo bộ đội, bát đũa, mâm bàn, mũ, nón, khăn vì vậy không tốn kém về kinh tế nếu sử dụng phương pháp này ở phạm vi nhỏ. Do đó, có thể áp dụng rộng rãi, thường xuyên, linh hoạt trong dạy học Ngữ văn ở tất cả các cấp học. - Hơn nữa, sáng kiến không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng lại có ý nghĩa kinh tế bởi nó góp phần đào tạo ra nguồn nhân lực phục vụ lao động sản xuất chất lượng trong tương lai. * Lợi ích xã hội - Sáng kiến đã đạt được mục tiêu biện pháp đề ra là nâng cao chất lượng bộ môn; giải pháp của sáng kiến đưa ra phù hợp với đối tượng học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Sơn Động; đồng thời đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất,
  18. 17 năng lực của người học. - Việc áp dụng sáng kiến vào tiết dạy Ngữ văn lớp 12 đem lại kết quả khả quan: học sinh hứng thú học tập hơn, mạnh dạn hơn trong các hoạt động tập thể. Học sinh chủ động, tích cực, có ý thức tự học, tự nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng học tập của bộ môn. - Từ nội dung sáng kiến này, giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn của các nhà trường nói riêng và các môn học khác nói chung, thường xuyên rà soát để điều chỉnh, cập nhật, bổ sung kịp thời nội dung còn thiếu cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị theo từng giai đoạn trong quá trình giảng dạy - Bản thân tôi có cơ hội thường xuyên trao được đổi chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm giảng dạy với bạn bè, đồng nghiệp nhằm chia sẻ thông tin, cách làm mới hiệu quả; tích cực học tập bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ nâng cao chất lượng bộ môn và hiệu quả công tác, đáp ứng được yêu đồi đối mới của sự nghiệp giáo dục trong giai đoạn hiện nay. “Văn học là nhân học” - Dạy văn đồng nghĩa với dạy người! Chính vì lẽ đó, người thầy luôn luôn phải là người thắp lửa, làm sao cho các em luôn có hứng thú yêu mến môn học, nhận ra giá trị đích thực, sự gần gũi của văn chương với cuộc sống. Quả đúng như William A. Warrd - nhà giáo dục người Mỹ đã nhận định: “Người thầy trung bình chỉ biết nói, người thầy giỏi biết giải thích, người thầy xuất chúng biết minh họa, người thầy vĩ đại biết cách truyền cảm hứng”. Với việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo các PPDH tích cực nói chung, PPDH đóng vai trong môn Ngữ văn nói riêng, tôi tin rằng mỗi giáo viên đã và sẽ thực hiện tốt vai trò “truyền cảm hứng” của người thầy. Từ đó phát huy tính tích cực tham gia học tập của học sinh, tạo môi trường không khí học tập vui vẻ và bồi dưỡng niềm yêu thích dành cho môn học. Tôi rất mọng nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng chí đồng nghiệp để sáng kiến được hoàn chỉnh, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy, đáp ứng nhu cầu đổi mới của giáo dục địa phương và nước nhà.
  19. 18 * Cam kết: Tôi cam kết biện pháp này không vi phạm bản quyền. Biện pháp này, bản thân tôi đã triển khai thực hiện và minh chứng về sự tiến bộ của học sinh là trung thực! Sơn Động, ngày 15 tháng 03 năm 2024 XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG NGƯỜI VIẾT BÁO CÁO TRƯỜNG PTDTNT SƠN ĐỘNG Hoàng Thị Cúc
  20. 19 PHỤ LỤC 1. MỘT SỐ HÌNH ẢNH HỌC TẬP KHI SỬ DỤNG PPDH ĐÓNG VAI CỦA HỌC SINH LỚP 12: Hình 1.1. Một tiết học có sử dụng PPDH đóng vai của HS trường PTDTNT Sơn Động Hình 1.2. Không khí học tập sôi nổi, tích cực trong một tiết học có sử dụng PPDH đóng vai