Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động

docx 30 trang baigiangchuan 06/03/2026 120
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxgiai_phap_to_chuc_hoat_dong_khoi_dong_tao_hung_thu_hoc_tap_p.docx

Nội dung text: Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động

  1. 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THUYẾT MINH MÔ TẢ GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN 1.Tên giải pháp: “Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động”. 2. Ngày giải pháp được áp dụng lần đầu: Ngày 16/01/2023 3. Các thông tin cần bảo mật: Không 4. Mô tả các giải pháp cũ thường làm - Mô tả giải pháp thường làm trước khi áp dụng sáng kiến mới: Thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) 2018, môn Lịch sử và Địa lí phần Lịch sử có vị trí và ý nghĩa quan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ. Từ những hiểu biết về quá khứ, học sinh hiểu rõ truyền thống dân tộc, tự hào về những trang sử dựng nước và giữ nước của cha ông và từ đó xác định nhiệm vụ trong hiện tại có thái độ đúng đối với sự phát triển hợp quy luật của tương lai. Đối với bộ môn Lịch sử và Địa lí, việc học tập phần lịch sử là quá trình nhận thức những điều đã diễn ra trong quá khứ của xã hội để hiểu về hiện tại và chuẩn bị cho tương lai. Khác với bộ môn khác, lịch sử không thể trực tiếp quan sát và cũng không thể khôi phục lại diễn biến của nó đã diễn ra. Các giải pháp truyền thống cũ, giáo viên thường làm như: + Nhiều giáo viên tổ chức hoạt động khởi động không đúng yêu cầu, theo thói quen là kiểm tra bài cũ, hoặc nhắc nhở học sinh. + Đa số giáo viên (GV) truyền đạt, giới thiệu bài mới từ một phía của GV, không tổ chức thành hoạt động, + Chỉ sử dụng sách giáo khoa, sách giáo viên và làm theo hướng dẫn. Người học đã quen với cách dạy truyền thống. - Nhược điểm, hạn chế của giải pháp cũ: + Các hoạt động dạy học không phong phú, đa dạng; Bài giảng của GV chưa sinh động, hấp dẫn nên làm cho người học chán nản, không hứng thú trong học tập bộ môn. + Không bắt kịp yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hiện đại nên phổ biến nhất vẫn là GV giới thiệu bài mới ngắn gọn, khái quát nội dung bài học bằng lối truyền thụ một chiều, học sinh vẫn chỉ thụ động nghe mà không được
  2. 2 tham gia vào các hoạt động học tập nên lời nói hình ảnh của GV có thể học sinh (HS) sẽ quên ngay bởi những cảm xúc đó không được hình thành từ chính hoạt động của người học. Vì vậy, sự tích cực, sáng tạo, sự hứng thú của HS với bài học ngay từ đầu đã dường như không có. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của thực trạng HS chưa hứng thú và “mặn mà” với việc học phần Lịch sử như hiện nay. 5. Sự cần thiết phải áp dụng giải pháp Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là một xu thế tất yếu. Trên thực tế việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông có thể coi là kế thừa phương pháp dạy học tích cực, phát huy sự sáng tạo của học sinh trong các hoạt động học tập. Đây là vấn đề có nhiều điểm mới trong cách tiếp cận. Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới phương pháp tổ chức dạy học theo chương trình GDPT 2018 và thực hiện theo công văn 5512, ngày 18/12/2020 của Bộ GD&ĐT đã ban hành về việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường. Trong mỗi bài học, giáo viên xây dựng kế hoạch theo tiến trình 4 hoạt động chính như: Khởi động, hình thành kiến thức, luyện tập, vận dụng. Trong đó khởi động là hoạt động đầu tiên nhằm tạo tình huống xuất phát, được tổ chức khi bắt đầu một bài học. Hoạt động này chỉ thực hiện vài phút đầu giờ nhưng là yếu tố tiên quyết dẫn đến sự thành công của tiết dạy. Có thể coi là bước “trải đệm” để dẫn dắt học sinh vào bài mới, giúp HS tiếp cận kiến thức bài học một cách dễ dàng. Đánh giá đúng thực trạng của tổ chức hoạt động khởi động (HĐKĐ) đối với phần Lịch sử trong môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7, từ đầu năm học 2022-2023 tôi đã chủ động theo dõi tình hình học tập của HS và tiến hành điều tra mức độ hứng thú học tập môn Lịch sử và khảo sát hứng thú với hoạt động khởi động đầu giờ học môn Lịch sử tại đơn vị, kết quả như sau: Bảng 1: Khảo sát số học sinh yêu thích, hứng thú với phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí khi chưa sử dụng giải pháp Tổng số Mức độ hứng thú HS Thích Bình thường Không thích SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 60 9 15 26 43,3 25 41,7
  3. 3 Bảng 2: Khảo sát các vấn đề liên quan đến hoạt động khởi động Thứ tự Nội dung khảo sát Số HS khảo sát Tỉ lệ 1 Em có quan tâm đến hoạt động Khởi động trong tiết học không? 60 100% Mức độ cao 9 15 Mức độ trung bình 26 43,3 Mức độ thấp 25 41,7 2 Khởi động có giúp em định hướng được 60 100% kiến thức mới cần hình thành không? Định hướng tốt 12 20 Chưa rõ ràng 28 46,7 Không định hướng được 20 33,3 3 Giữa việc giáo viên dẫn dắt để vào 60 100% bài (A) và tổ chức các hoạt động Khởi động (B) như trò chơi, xem video, hình ảnh, hát... thì em thích cách nào hơn? Cách A 28 46,7 Cách B 32 53,3 Đầu năm học 2023-2024, tôi tiến hành điều tra mức độ hứng thú học tập phần lịch sử và khảo sát hứng thú với hoạt động khởi động đầu giờ học Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí 7 đối với 318 HS tại các trường trung học cơ sở (THCS): Thị trấn An Châu (111 HS), An Châu (97 HS), Lệ Viễn (50 HS) và Trường Phổ thông DTNT Sơn Động (60 HS), kết quả như sau: Bảng 1: Khảo sát số học sinh yêu thích, hứng thú với phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí khi chưa sử dụng giải pháp Tổng số Mức độ hứng thú HS Thích Bình thường Không thích SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ % 318 94 29,5 121 38,1 103 32,4
  4. 4 Bảng 2: Khảo sát các vấn đề liên quan đến hoạt động khởi động Thứ tự Nội dung khảo sát Số HS khảo sát Tỉ lệ 1 Em có quan tâm đến hoạt động Khởi động trong tiết học không? 318 100% Mức độ cao 94 29,5 Mức độ trung bình 121 38,1 Mức độ thấp 103 32,4 2 Khởi động có giúp em định hướng được kiến thức mới cần hình thành không? 318 100% Định hướng tốt 60 18,9 Chưa rõ ràng 103 32,4 Không định hướng được 155 48,7 3 Giữa việc giáo viên dẫn dắt để vào 318 100% bài (A) và tổ chức các hoạt động Khởi động (B) như trò chơi, xem video, hình ảnh, hát... thì em thích cách nào hơn? Cách A 112 35,2 Cách B 206 64,8 Bảng 3: Kết quả khảo sát chất lượng đầu học kì I năm học 2023-2024 Từ 3-dưới Từ 5- dưới Từ 6,5- Từ TB trở Số Số Dưới 3 Từ 8-10 Trường 5 6,5 dưới 8 lên lớp HS SL % SL % SL % SL % SL % SL % An 3 97 7 7.2 33 34.0 48 49.5 6 6.2 3 3.1 57 58.7 Châu TT An 3 111 12 10.8 44 39.6 45 40.5 6 4.4 4 3.6 55 50.0 Châu Lệ 2 50 6 12.0 17 34.0 20 40.0 5 10.0 2 4.0 27 54.0 Viễn DTNT 2 60 5 8.3 14 23.4 33 55.0 5 8.3 3 5.0 41 68.3 Tổng 10 318 30 9.4 108 33.9 146 45.9 22 6.9 12 3.8 180 56.6
  5. 5 Từ kết quả khảo sát học sinh, tôi thấy một thực trạng: Chất lượng học tập bộ môn chưa cao. Hoạt động mở đầu tiết học vẫn chỉ mang tính hình thức, chưa tạo được sự hứng thú, động cơ học tập cho học sinh. Vậy nguyên nhân của thực trạng: + Về phía GV: Chưa thực sự đầu tư cho đổi mới phương pháp dạy học. Giáo viên thường xuyên giới thiệu bài bằng cách dẫn dắt trực tiếp vào bài. Hoặc khi tổ chức hoạt động mở đầu, GV vẫn đóng vai trò chính, mang tính áp đặt một chiều, chưa có sự tham gia của học sinh. + Về phía HS: - Học sinh không hứng thú với môn Lịch sử một phần do đặc thù bộ môn: còn nặng về lý thuyết, nhiều sự kiện, mốc thời gian nên đa số HS chỉ ghi nhớ một cách máy móc, học vẹt mà không hiểu bản chất của sự kiện, hiện tượng...từ đó gây nên tâm lí “sợ” học môn Lịch sử. - Nhiều HS có tâm lý học lệch, thiên về một số môn khoa học tự nhiên (KHTN) nên ở các môn khoa học xã hội (KHXH) nói chung, môn Lịch sử nói riêng chưa có sự đầu tư, chưa chuẩn bị bài chu đáo, dẫn đến chất lượng bộ môn chưa cao. Qua hoạt động khởi động HĐKĐ: HS còn thụ động, “ngại” tham gia vào hoạt động học, chưa có sự tương tác giữa trò và thầy, trò với trò. Vì vậy ngay từ đầu sự hứng thú, tích cực, sáng tạo với bài học dường như không có nên hiệu quả HĐKĐ không cao. Chính vì lẽ đó, tôi nhận thấy việc tìm ra giải pháp mới nhằm thay đổi cách học cũng như thái độ học tập của HS đối với môn Lịch sử là rất cần thiết. Hơn nữa, trước yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử hiện nay, điều tất yếu GV cần coi trọng HĐKĐ sao cho tạo được ấn tượng, tâm thế tốt nhất giúp HS chủ động, tự tin khám phá kiến thức mới từ đó góp phần hình thành năng lực, phẩm chất cho HS nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh; tôi đã mạnh dạn trình bày giải pháp “Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động” với mong
  6. 6 muốn tạo hứng thú học tập đồng thời góp phần giúp học sinh phát triển năng năng và nâng cao chất lượng học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí lớp 7 hiện nay nói riêng và cả cấp THCS trên địa bàn huyện Sơn Động nói chung. 6. Mục đích của giải pháp - Đưa ra giải pháp mới nhằm giúp GV và HS thấy đươc ̣ sự cần thiết của việc tổ chức các HĐKĐ nhằm tạo hứng thú học tập, khắc sâu kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động tiếp nhận kiến thức của HS qua đó hình thành năng lực bộ môn, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí 7 ở Trường phổ thông Dân tộc nội trú (DTNT) Sơn Động nói riêng và HS THCS trên địa bàn huyện Sơn Động nói chung. - Góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí 7, nâng cao hiệu quả giảng dạy của GV, tạo điều kiện cho GV tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phát triển năng lực của bản thân. 7. Nội dung 7.1. Thuyết minh giải pháp mới hoặc cải tiến - Tên giải pháp: “Giải pháp tổ chức hoạt động khởi động tạo hứng thú học tập phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa Lí lớp 7 nhằm nâng cao chất lượng học tập bộ môn cho học sinh lớp 7 trên địa bàn huyện Sơn Động” - Nội dung: Tạo hứng thú học tập để nâng cao chất lượng bộ môn cho học sinh lớp 7 thông qua hoạt động khởi động trong giờ học phần Lịch sử môn Lịch sử và Địa lí lớp 7. - Tính mới, sự khác biệt của giải pháp: * Trước khi áp dụng sáng kiến: Tôi thường bắt đầu bài học bằng cách: đặt câu hỏi kiểm tra bài cũ rồi dẫn dắt vào bài mới hoặc giới thiệu bài mới một cách ngắn gọn, khái quát nội dung bài học bằng lối truyền thụ một chiều. Chỉ cần sử dụng sách giáo khoa, sách giáo viên và làm theo hướng dẫn. * Khi cải tiến phương pháp giảng dạy: Tôi đã tận dụng tối đa hiệu quả của công nghệ thông tin (CNTT) trong đổi mới phương pháp giảng dạy. Không chỉ trình chiếu Powerpoint đơn giản mà đã
  7. 7 khai thác triệt để các nguồn học liệu trên mạng Internet; các phần mềm cắt ghép, trình chiếu Video...Tổ chức HĐKĐ bằng việc kể chuyện lịch sử theo tranh, xem các vi deo, thước phim tư liệu... như một hình thức du lịch trên màn ảnh nhỏ. Qua đó đã tạo được hứng thú học tập bộ môn, đồng thời hình thành các năng lực học tập và góp phần nâng cao chất lượng bộ môn; các năng lực đó là: + Năng lực tự học: khai thác được tài liệu phục vụ cho bài học; + Năng lực giao tiếp và hợp tác: làm việc nhóm có hiệu quả; + Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: biết sử dụng công cụ, phương tiện CNTT phục vụ bài học; biết phân tích và xử lí tình huống... - Các bước tiến hành thực hiện giải pháp: 7.1.1. Khởi động bằng kể chuyện lịch sử Khởi động bằng cách kể chuyện lịch sử cũng là một cách tuyệt vời để thay đổi “khẩu vị” bài giảng. Vì sao học sinh thường rất thích nghe kể chuyện? Đơn giản vì điều đó làm giải tỏa những căng thẳng trong quá trình học tập. Các em được phép tưởng tượng theo những gì thầy cô kể, bạn kể thay vì nhìn chằm chằm vào sách, vở những thứ đôi khi khiến chúng nhàm chán. Sử dụng những mẩu chuyện lịch sử để dẫn dắt HS vào bài mới, vừa có tác dụng cung cấp kiến thức, vừa giúp các em gắn được sự kiện, hiện tượng với các nhân vật tiêu biểu, điển hình. Đặc biệt, những mẩu chuyện lịch sử thường có tính giáo dục rất cao. Khi người kể nhập tâm vào câu chuyện sẽ khiến người nghe như được “sống” cùng các nhân vật trong chuyện, giúp cho việc tìm tòi, khám phá kiến thức diễn ra một cách tự nhiên mà HS lại hào hứng, thích thú. * Cách thức thực hiện - Bước 1: GV lựa chọn mẩu chuyện, hình thức kể chuyện. - Bước 2: GV hoặc HS kể chuyện. - Bước 3: GV gợi mở bằng câu hỏi đưa học sinh vào tình huống có vấn đề cần giải quyết. - Bước 4: GV dẫn dắt vào bài mới. Ví dụ 1: Khi dạy bài 9, mục 2 "Công cuộc thống nhất đất nước của Đinh Bộ Lĩnh và sự thành lập nhà Đinh" (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tổ chức thực hiện:
  8. 8 - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ GV cho HS quan sát hình ảnh và bài thơ trên mành hình, kể chuyện lịch sử HS quan sát hình ảnh, đọc bài thơ trên màn hình và thực hiện nhiệm vụ “Bé thì chăn nghé, chăn trâu Trận bày đã lấy bông lau làm cờ. Lớn lên xây dựng cơ đồ Mười hai sứ tướng bây giờ đều thua ” ? Hình ảnh và bài thơ trên gợi cho em biết, nhớ đến nhân vật nào trong lịch sử? hãy kể những điều mà em biết về nhân vật đó? - Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân, thực hiện nhiệm vụ. - Báo cáo kết quả hoạt động GV mời HS trả lời ý 1 câu hỏi. Ý 2, mời HS lên bảng kể chuyện. - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới (GV kể lại theo hình ảnh ngắn gọn những nét chính về Đinh Bộ Lĩnh)
  9. 9 Đinh Bộ Lĩnh - Hoàng đế đầu tiên của nước Đại Cồ Việt Tượng thờ vua Đinh Tiên Hoàng Lăng mộ Đinh Tiên Hoàng trên đỉnh núi Mã Yên (Hoa Lư, Ninh Bình)
  10. 10 Đề thờ Đinh Tiên Hoàng thuộc Quần thể di tích danh thắng Tràng An- được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới năm 2014 (GV thông tin những nét chính về Đinh Bộ Lĩnh, phần này GV kể, không thể hiện trên các phương tiện dạy học) Đinh Bộ Lĩnh, sinh ngày rằm tháng Hai năm Giáp Thân (924) ở thôn Kim Lư, làng Đại Hữu, châu Đại Hoàng ( nay là thôn Văn Bòng, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Thân phụ là Đinh Công Trứ làm quan Thứ sử Hoan Châu (Nghệ An). Cha mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh theo mẹ là Đàm Thị về quê, nương thân với chú ruột là Đinh Dự ở chăn trâu. Ông thường cùng nhóm trẻ chăn trâu bẻ hoa lau làm cờ, lập trận giả đánh nhau, tỏ rõ có tài chỉ huy. Bọn trẻ thường khoanh tay làm kiệu để rước ông như nghi vệ thiên tử. Đến tuổi trưởng thành vốn là người có chí khí khác thường, thấy đất nước đang lâm vào cơn hỗn loạn, Đinh Bộ Lĩnh chiêu tập trước hết là các bạn thuở cờ lau tập trận, sau đến các nghĩa sĩ quanh vùng. Bấy giờ trong nước loạn lạc, sử gọi là loạn 12 sứ quân. Nhờ thông minh mưu lược có khí phách, Đinh Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa, mong lập nghiệp lớn, dân quanh vùng theo về rất đông. Biết lực lượng của mình còn mỏng, Đinh Bộ Lĩnh sang xin theo sứ quân Trần Lãm ( tức Trần Minh Công) ở Bố Hải Khẩu nay thuộc tỉnh Thái Bình. Thấy Đinh Bộ Lĩnh là người khôi ngô, có chí khí, có tài thao lược, lại là con trai của Đinh Công Trứ, người bạn đồng liêu, Trần Lãm mến tài gả con gái cho. Khi tuổi cao sức yếu Trần Lãm giao toàn bộ binh quyền cho Đinh Bộ Lĩnh. Đinh Bộ Lĩnh tiếp tục xây dựng lực lượng, thu phục nhân tài, phất cờ hiệu triệu dân chúng, đánh dẹp các sứ quân, đánh đâu thắng đó, uy danh lừng lẫy. Ba quân tướng sĩ tôn vinh ông là Vạn Thắng Vương. Chỉ trong vòng một năm, Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp yên 12 sứ quân, bốn phương ca khúc khải hoàn, non sông thu về một mối, chấm dứt thời kì loạn lạc. Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng Vương lên ngôi hoàng đế hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt (Nước Việt to lớn), đóng đô ở Hoa Lư (nay là xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình). Nhà vua cho đúc tiền đồng “Thái Bình Hưng Bảo”, đây là đồng tiền xưa nhất của nước ta. Ông còn xây dựng kĩ cương, đặt các luật lệ để yên dân. Vào đêm trung thu rằm tháng Tám năm Kỷ Mão (979) Đại Thắng Minh Hoàng Đế băng hà, được triều thần tôn là Tiên Hoàng Đế. Đinh Tiên Hoàng tuy ở ngôi ngắn ngủi (12 năm) nhưng ông là người thông minh, mưu lược, sáng tạo, có công lao to lớn là dẹp yên loạn lạc, xóa bỏ tình trạng cát cứ làm suy yếu đất nước, xây dựng nhà nước trung ương tập quyền đầu tiên, có đủ triều nghi phẩm phục, có quân đội hùng mạnh, pháp chế nghiêm minh. Trên cơ sở nước Đại
  11. 11 Cồ Việt thống nhất và vững mạnh ấy, năm 989 Lê Hoàn có điểm tựa để đánh bại quân xâm lược nhà Tống, bảo vệ độc lập, chủ quyền cho non sông đất nước. Đinh Tiên Hoàng là vị anh hùng dân tộc mở đầu và đặt nền thống nhất quốc gia.Sự nghiệp Đinh Tiên Hoàng muôn đời còn mãi trong lòng dân tộc ta, non sông đất nước ta. Ví dụ 2: Khi dạy bài 12 “ Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075-1077) ” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tổ chức thực hiện: - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ GV cho HS quan sát tranh ảnh, kết hợp kể chuyện về nhân vật Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075-1077) Lý Thường Kiệt (1019- 1105) là một danh tướng đời nhà Lý. Ông vốn họ tên là Ngô Tuấn, tên tự là Thường Kiệt, sau được ban họ vua nên đổi thành Lý Thường Kiệt. Quê của ông ở xã An Xá, huyện Quảng Đức nay thuộc phường Long Biên, quận Long Biên, thành phố Hà Nội, sau chuyển sang ở phường Thái Hòa, nay thuộc khu vực nội thành thành phố Hà Nội. Ông là người văn võ toàn tài, được đào tạo từ nhỏ. Ông làm quan trải qua ba triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông làm đến chức Thái úy, tước Khai quốc công. Ông được vua Lý Nhân Tông ban cho hiệu “Thiên tử nghĩa đệ”. Lý Thường Kiệt là người có công trong việc đánh dẹp quân Chăm pa xâm lấn, quấy nhiễu biên giới. Ông đặc biệt có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ 2 (1075 – 1077). Sau thất bại này, nhà Tống buộc phải giữ bang giao thân thiện với Đại Việt trong suốt 200 năm về sau. Trong thời gian 19 năm Lý Thường Kiệt được giao nhiệm vụ là Tổng trấn Thanh Hóa (1082 - 1103), ông đã xây dựng Thanh Hóa thành vùng đất biên ải vững chắc về mọi mặt của nhà Lý. Ông đã củng cố bộ máy cai trị, sử dụng người tài, phát triển kinh tế, khuyến khích nghề
  12. 12 nông, nghề đánh cá, nghề muối, nghề thủ công mỹ nghệ, phát triển văn hóa, khuyến khích học hành, xóa bỏ phong tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phát triển Phật giáo. Cuối năm 1103, Lý Thường Kiệt được cử đi dẹp loạn Lý Giác ở Diễn Châu (Nghệ An) khi đã 84 tuổi. Năm 1105, ông về triều rồi mất ở tuổi 86. Ông là người đức tài toàn vẹn, văn võ kiêm toàn, là người con chí hiếu, người bầy tôi trung thành, người yêu nước nồng nàn, nhà chính trị kiệt xuất, nhà quân sự thiên tài, nhà nội trị tài giỏi. Ông là kết tinh những đức tính quý báu của dân tộc Việt Nam, thể hiện được nguyện vọng, ý chí độc lập tự do của nhân dân ta, là anh hùng kiệt xuất sáng mãi trong lịch sử nước nhà. Em có ấn tượng hay nhận xét gì về vai trò của Lý Thường Kiệt trong cuộc kháng chiến chống quân Tống (1075-1077)? -Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân, thực hiện nhiệm vụ. - Báo cáo kết quả hoạt động GV mời HS trả lời câu hỏi. HS khác nhận xét, bổ sung. - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới Ví dụ 3: Khi dạy bài 14 “ Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông- Nguyên” Trước khi dạy mục 2. Cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1285. * Tổ chức thực hiện: - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ GV gợi ý dẫn dắt bằng câu hỏi: em có biết Trần Quốc Tuấn là ai không? Trần Quốc Tuấn có công lao gì trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước? Sau đó GV bổ sung bằng kể câu chuyện (hoặc nếu HS biết nhiều thì HS kể lại, GV bổ sung; nếu học sinh không có ý kiến, GV kể cho HS nghe câu chuyện về Trần Quốc Tuấn)
  13. 13 Ngày xưa, về đời nhà Trần, ở đất Nam Định, có An Sinh vương phu nhân, chồng là anh ruột của vua Trần Thái Tông. Một đêm, bà nằm mơ thấy có một vị thiên thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh Tiên Đồng Tử, theo lệnh Ngọc Hoàng xuống đầu thai. Sau đó bà thụ thai, đến lúc lâm bồn, có hào quang toả sáng rực cả nhà, mùi hương thơm ngào ngạt. Bà hạ sinh ra một cậu bé khôi ngô tuấn tú, đặt tên là Trần Quốc Tuấn. Trần Quốc Tuấn thông minh rất sớm. Mới lên 5 tuổi đã biết làm thơ, có óc lãnh đạo, thường bày trò chơi bát trận. Lớn lên, càng học giỏi, tinh thông nhiều sách thánh hiền và cổ nhân, tinh thông lục thao tam lược, văn võ toàn tài. Thuở ấy, dân tộc Mông Cổ làm bá chủ toàn cõi Trung Hoa, tràn chiếm một phần lớn Đông Âu, thâu tóm cả lục địa Á Châu. Thế lực của quân Mông Cổ mạnh mẽ như vũ bão, cuồng phong. Vó ngựa của quân Mông Cổ phi đến đâu, thì cỏ nơi ấy không mọc đựơc nữa. Đại quân nhà Nguyên mạnh như bão, như lửa, đã tiến về phương Nam của dân tộc Việt, tính thôn tính cả vùng Đông Nam Á, để thực hiện mộng làm bá chủ toàn cầu của lãnh tụ Mông Cổ: Thành Cát Tư Hãn. Nước Nam bé nhỏ, như con châu chấu chống bánh xe khổng lồ ở phương Bắc. Tuy nhiên, 3 lần quân Nguyên tràn sang đất Việt, đều hoảng hồn quay về. Tướng Trần Quốc Tuấn đã thống lãnh binh sĩ, cùng dân chúng một lòng cương quyết, đánh bật quân ngoại xâm ra khỏi bờ cõi Việt. Quân Mông Cổ từng “trăm trận trăm thắng”, đã thảm bại kéo quân trở về. Họ rất nể sợ uy danh của Trần Quốc Tuấn, không dám nhắc tên ông, chỉ gọi là Hưng Đạo Vương. Khi tướng nhà Nguyên là Thoát Hoan kéo quân sang đánh nước Việt lần thứ 2, có mang theo một tỳ tướng tên là Bá Linh, tức Phạm Nhan, có tài yêu thuật. Trần Hưng Đạo lập trận cửa cung phá được, bắt sống Phạm Nhan. Kỳ lạ thay, binh sĩ Việt dùng gươm chém thế nào Phạm Nhan cũng không chết. Trần Hưng Đạo phải dùng Thần Kiếm mới giết được hắn. Tục truyền rằng, khi tên yêu thuật Phạm Nhan chết đi, thường hiện thành ma quỷ về phá rối đàn bà con gái. Dân chúng gọi là “tà Phạm Nhan”, phải nhờ đến uy linh của Hưng Đạo Vương mới trừ khử được. Về già, Trần Hưng Đạo trí sĩ ở Vạn Kiếp. Ông được vua tôn kính phong làm Thái Sư Thượng Phụ Hưng Đạo Đại Vương, lập miếu sinh từ ở Vạn Kiếp và khắc văn bia để ghi nhớ công đức của Ngài. Hưng Đạo Vương đã soạn ra quyển Binh Thư Yếu Lược, và lập ra cửa đồ cửu cung bát quái thần diệu vô cùng. Ngoài 70 tuổi, Hưng Đạo Vương mất. Dân chúng ghi nhớ công đức của Ngài, hàng năm đến ngày huý nhật 20.8, đền thờ Trần Hưng Đạo ở Kiếp Bạc và nhiều nơi khác trong nước. Đền Kiếp Bạc
  14. 14 Sau khi GV hoặc học sinh kể xong, GV nêu vấn đề: Vậy Trần Quốc Tuấn-tổng chỉ huy các lực lượng kháng chiến diễn ra như thế nào? GV dẫn dắt HS vào bài. Như vậy, thông qua những mẩu chuyện lịch sử và cách linh hoạt trong việc sử dụng ngôn ngữ của GV, HS sẽ hình thành những cảm xúc lịch sử như căm ghét, phản đối hay đồng tình, yêu mến trước những sự kiện, nhân vật, hiện tượng lịch sử. Sự hồi hộp, xúc động đối với các sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử càng làm tăng hứng thú học tập cho HS, dẫn dắt HS bước vào bài mới một cách nhẹ nhàng song lôi cuốn. 7.1.2. Khởi động bằng một thước phim, đoạn video. Đặc thù của học lịch sử là HS không thể quan sát trực tiếp những sự kiện, hiện tượng diễn ra trong quá khứ nên việc sử dụng những bài hát, đoạn video, thước phim tái hiện lại sự kiện sẽ giúp các em hình dung ra được quá khứ lịch sử. Sau khi HS quan sát xong, GV sử dụng những câu hỏi hướng vào nội dung của bài để định hướng tư duy cho HS. Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV đưa ra nhận xét và khái quát những vấn đề trọng tâm, giúp các em dễ dàng bước vào hoạt động hình thành kiến thức mới. * Cách thức thực hiện - Bước 1: GV lựa chọn đoạn video - Bước 2: HS xem video - Bước 3: GV chuyển giao nhiệm vụ, sử dụng những câu hỏi hướng vào nội dung của bài để định hướng tư duy cho HS. -Bước 4: HS chia sẻ cảm xúc, trả lời câu hỏi GV giao, GV dẫn dắt vào bài mới. Ví dụ 1: Khi dạy bài 4 "Trung Quốc từ thế kỉ VII đến giữa thế kỉ XIX" (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tổ chức thực hiện: - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ: Quan sát đoạn video sau, ghi chép nhanh tiến trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của Trung Quốc từ thế kỉ VII đến giữa thế kỉ XIX? GV chiếu đoạn Video: Tiến trình phát triển và những thành tựu chủ yếu của Trung Quốc từ thế kỉ VII đến giữa thế kỉ XIX - thời lượng 3 phút.
  15. 15 Nguồn dẫn: - Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân, quan sát và trả lời câu hỏi. - Báo cáo kết quả hoạt động GV gọi 1-3 HS kể tên các triều đại được nhắc đến trong video (Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh); Những thành tựu chủ yếu (Tư tưởng-tôn giáo; Sử học, văn học; Kiến trúc, điêu khắc) GV bổ sung và cung cấp cơ bản các ý chính vể các triều đại và những thành tựu chủ yếu qua hình ảnh để dẫn dắt vào bài
  16. 16 - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới. Ví dụ 2: Khi dạy bài 11 “ Nhà Lý xây dựng và phát triển đất nước 1009- 1225)” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tiến hành thực hiện - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ: GV chiếu đoạn phim Video và một số hình ảnh: Lý Công Uẩn lên ngôi, lập ra triều Lý. Đoạn phim Video - thời gian 3 phút, Nguồn dẫn: Một số hình ảnh Lý Thái Tổ và Hoàng thành Thăng Long
  17. 17 HS quan sát đoạn phim video và hình ảnh sau đó trả lời 02 câu hỏi. 1.Nhà Lý đã làm những gì để xây dựng và phát triển đất nước? 2.Nhận xét của em về công lao của Lý Công Uẩn - Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân, quan sát video. Hoạt động theo nhóm bàn, trao đổi, thảo luận câu hỏi GV giao. - Báo cáo kết quả hoạt động GV gọi 1-3 nhóm bàn trả lời câu hỏi; Nhóm khác nhận xét, bổ sung. - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới. Ví dụ 3: Khi dạy bài 16 “ Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)” (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tiến hành thực hiện - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ: GV chiếu đoạn Video: Khởi nghĩa Lam Sơn. Nguồn dẫn: HS quan sát đoạn video và trả lời câu hỏi: Em biết gì về chủ tướng Lê Lợi?
  18. 18 Hình ảnh minh họa Lê Lợi và Nguyễn Trãi ở căn cứ Lam Sơn - Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân quan sát video. Hoạt động theo nhóm bàn, trao đổi, thảo luận câu hỏi GV giao. - Báo cáo kết quả hoạt động GV gọi 1-3 nhóm bàn trả lời câu hỏi; Nhóm khác nhận xét, bổ sung. - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới. Rõ ràng, được quan sát hình ảnh, nghe giai điệu của âm nhạc kết hợp với tư duy trên cơ sở các câu hỏi mà GV đã định hướng, HS sẽ có tâm thế và ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú với học bài mới. Kết thúc hoạt động này, GV không “chốt” về nội dung kiến thức mà chỉ giúp HS phát biểu được vấn đề để chuyển sang các hoạt động học tập tiếp theo nhằm hình thành những kiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyết được vấn đề học tập. 7.1.3. Khởi động bằng tranh ảnh trực quan. Tranh ảnh minh họa là một phương tiện hỗ trợ cho việc hình thành năng lực tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử. Khi tổ chức HĐKĐ bằng tranh, GV sử dụng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, trình chiếu những hình ảnh có liên quan đến nội dung bài học; sau đó, sử dụng những câu hỏi hướng vào nội dung của bài để định hướng tư duy cho HS. Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV đưa ra nhận xét và khái quát những vấn đề trọng tâm, giúp các em dễ dàng tham gia vào hoạt động học tập.
  19. 19 * Cách thức thực hiện - Bước 1: Giáo viên lựa chọn tranh ảnh phù hợp để tổ chức HĐKĐ - Bước 2: Giáo viên giới thiệu tranh ảnh yêu cầu học sinh chú ý theo dõi. - Bước 3: Giáo viên nêu câu hỏi để học sinh khai thác tranh ảnh. - Bước 4: Từ tranh ảnh giáo viên cho HS liên hệ, dẫn dắt vào bài mới. Ví dụ 1: Khi dạy bài 5 "Ấn Độ từ thế kỉ IV đến giữa thế kỉ XIX" (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tổ chức thực hiện: - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ: Quan sát các bức ảnh sau và thực hiện nhiệm vụ theo sơ đồ KWL. GV sử dụng kĩ thuật dạy học KWL yêu cầu HS: Hãy viết những điều em đã biết, muốn biết và sẽ làm gì để tìm hiểu văn hóa Ấn Độ.
  20. 20 - Học sinh thực hiện nhiệm vụ HS hoạt động cá nhân, quan sát hình ảnh. Hoạt động theo nhóm bàn hoàn thành sơ đồ KWL. - Báo cáo kết quả hoạt động GV gọi 1-3 nhóm trả lời; Nhóm khác nhận xét, bổ sung. - GV nhận xét, đánh giá, dẫn dắt vào bài mới. Mỗi nhóm HS có thể trình bày sản phẩm ở mức độ khác nhau, GV bắt đầu gợi mở nêu những nhiệm vụ của bài học mà các em phải tìm hiểu và dẫn dắt HS vào bài mới. Ví dụ 2: Khi dạy bài 6 "Các vương quốc phong kiến Đông Nam Á từ nửa sau thế kỉ X đến đầu thế kỉ XVI" (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) * Tổ chức thực hiện: - Giáo viên chuyển giao nhiệm vụ GV chiếu các hình ảnh HS quan sát những hình ảnh và trả lời câu hỏi dẫn dắt của GV