Đề cương ôn tập Ngữ văn 6

docx 18 trang baigiangchuan 09/03/2026 90
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn 6", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_cuong_on_tap_ngu_van_6.docx

Nội dung text: Đề cương ôn tập Ngữ văn 6

  1. Bài 6: CHUYỆN KỂ VỀ NHỮNG NGƯỜI ANH HÙNG I. Kiến thức chung về truyền thuyết 1. Truyền thuyết - Truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các sự kiện và nhân vật ít nhiều có liên quan đến lịch sử thông qua sự tưởng tượng, hư cấu. 2. Thế giới nghệ thuật của truyền thuyết - Chủ đề: cuộc đời và chiến công của nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong tục, sản vật địa phương theo quan điểm của tác giả dân gian. - Thời gian: theo mạch tuyến tính. Nội dung thường gồm ba phần gắn với cuộc đời của nhân vật chính: hoàn cảnh xuất hiện và thân thế; chiến công phi thường; kết cục. - Nhân vật chính: là những người anh hùng. - Lời kể: cô đọng, mang sắc thái trang trọng, ngợi ca, có sử dụng một số thủ pháp nghệ thuật nhằm gây ấn tượng về tính xác thực của câu chuyện. - Yếu tố kì ảo (lạ, không có thật) xuất hiện đậm nét ở tất cả các phần nhằm tôn vinh, lí tưởng hoá nhân vật và chiến công của họ B. Hệ thống kiến thức các văn bản đọc I. Thánh Gióng 1. Thể loại: truyền thuyết về người anh hùng. 2. Phương thức biểu đạt: tự sự 3. Bố cục: Văn bản chia làm 4 phần - P1: Từ đầu “nằm đấy” Sự ra đời của Gióng. - P2: tiếp “cứu nước”: Gióng trưởng thành và đánh tan quân giặc. + P3: tiếp ”lên trời”: Gióng đánh thắng giặc và bay về trời. + P4: còn lại Sự bất tử của người anh hùng Gióng. . Vua nhớ công ơn, phong làm Phù Đổng Thiên Vương, lập đền thờ ở làng Gióng. 4. . Nội dụng – Ý nghĩa: - Nội dung: Truyện kể về công lao đánh đuổi giặc ngoại xâm của người anh hùng Thánh Gióng, qua đó thể hiện ý thức tự cường của dân tộc ta. - Ý nghĩa: Truyện ca ngợi người anh hùng đánh giặc tiêu biểu cho sự trỗi dậy của truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, anh dũng kiên cường của dân tộc ta. 5. Nghệ thuật: - Chi tiết tưởng tượng kìảo, khéo kết hợp huyền thoại và thực tế (cốt lõi sự thực lịch sử với những yếu tố hoang đường. 6. Luyện tập a. Bài tập 1. Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức. Hai ông bà ao ước có một đứa con. Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem kém thua bao nhiêu. Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô. Hai vợ chồng mừng lắm. Nhưng lạ thay! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy (SGK Ngữ văn 6, tập 2) 1
  2. Câu 1: Đoạn văn trên trích từ văn bản nào? Văn bản đó thuộc thể loại nào của truyện dân gian? Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn. Câu 2: Xác định từ theo cấu tạo trong câu sau: “Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức” Câu 3: Đoạn văn trên kể về sự việc gì? Câu 4: Tìm các từ mượn trong đoạn văn trên và cho biết nguồn gốc của các từ mượn đó. Hướng dẫn làm bài Câu 1: - Đoạn văn trên trích từ văn bản Thánh Gióng - Văn bản ấy thuộc thể loại truyện truyền thuyết - PTBĐ chính: Tự sự Câu 2: “Tục truyền/ đời /Hùng Vương/ thứ sáu/, ở/ làng Gióng/ có /hai /vợ chồng/ ông lão/ chăm chỉ /làm ăn /và /có /tiếng /là /phúc đức” Từ ghép: tục truyền, Hùng Vương, thứ sáu, làng Gióng, vợ chồng, ông lão, làm ăn, phúc đức Từ láy: chăm chỉ Từ đơn: đời, ở, có, hai, và, là Câu 3: Đoạn văn kể về sự ra đời vừa bình thường, vừa kì lạ của Thánh Gióng Câu 4: Từ mượn: tục truyền, Hùng Vương, phúc đức, thụ thai, khôi ngô, Nguồn gốc: Từ mượn tiếng Hán b. Bài tập 2: Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Bấy giờ có giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng rao, bỗng dưng cất tiếng nói: “ Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “ Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả vừa kinh ngạc, vừa mừng rỡ, vội vàng về tâu vua. Nhà vua truyền cho thợ ngày đêm làm gấp những vật chú bé dặn”. (SGK Ngữ văn 6, tập 2) Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn văn ? Câu 2: Nhân vật chính trong truyện là ai ? Câu 3 : Cho biết ý nghĩa của chi tiết : “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc ” ? Câu 4 : Tìm cụm danh từ trong câu : “ Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này” Câu 5 : Hội thi trong nhà trường thường mang tên “ Hội khoẻ Phù Đổng”. Hãy lí giải vì sao? Hướng dẫn làm bài Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn : tự sự 2
  3. Câu 2: Nhân vật chính trong truyện là Thánh Gióng. Câu 3 : Ý nghĩa của chi tiết : “Tiếng nói đầu tiên của chú bé là tiếng nói đòi đi đánh giặc ” : - Ca ngợi ý thức đánh giặc, cứu nước trong hình tượng Gióng. - Ý thức đánh giặc cứu nước tạo cho người anh hùng những khả năng hành động khác thường, thần kì. - Gióng là hình ảnh của nhân dân, khi bình thường thì âm thầm, lặng lẽ. Nhưng khi nước nhà có giặc ngoại xâm thì họ vùng lên cứu nước. Câu 4 : Cụm danh từ : một con ngựa sắt, một cái roi sắt, một tấm áo giáp sắt, lũ giặc này. Câu 5 : - Đây là hội thi thể thao dành cho lứa tuổi thiếu niên học sinh, lứa tuổi của Gióng trong thời đại mới. - Mục đích của hội thi là khoẻ để học tập, lao động tốt góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước. II. Sơn Tinh, Thủy Tinh 1. Thể loại: Truyện truyền thuyết. 2. Phương thức biểu đạt: Tự sự 3. Ngôi kể : Ngôi thứ 3 4. Bố cục: 3 phần. - Từ đầu “Một đôi”:Vua Hùng kén rể. - Tiếp “Rút quân”: Sơn Tinh, Thủy Tinh cầu hôn và cuộc giao tranh giữa hai vị thần. - Còn lại: Việc trả thù của Thủy Tinh. 5. Nghệ thuật - Xây dựng hình tượng nhân vật mang dáng dấp thần linh với nhiều chi tiết tưởng tượng kì ảo có tính khái quát cao. - Cách kể chuyện hấp dẫn sinh động. 6. Nội dung,Ý nghĩa - Nội dung: Truyện giải thích hiện tượng mưa bão, lụt xảy ra hàng năm ở đồng bằng Bắc Bộ thuở các vua Hùng dựng nước. - Ý nghĩa: Thể hiện sức mạnh và ước mơ chế ngự thiên tai bảo vệ cuộc sống của người Việt cổ. 7. Luyện tập 3
  4. a. Bài tập 1: Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: “Hay đâu thần tiên đi lấy vợ Sơn Tinh, Thủy Tinh lòng tơ vương Không quản rừng cao, sông cách trở Cùng đến Phong Châu xin Mị Nương Sơn Tinh có một mắt ở trán Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì Một thần phi bạch hổ trên cạn Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi” (SGK Ngữ văn 6, trang 34) Câu 1: Đoạn thơ cho em liên tưởng tới văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 6? Văn bản đó thuộc thể loại nào? Câu 2: Hãy giải thích nghĩa và cho biết nguồn gốc của các từ: Sơn Tinh, Thủy Tinh, bạch hổ Câu 3: Từ “râu ria” trong câu “Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì” thuộc loại từ nào theo cấu tạo? Hãy giải thích lựa chọn của em Câu 4: Xác định thành phần câu trong các câu sau: - Sơn Tinh, Thủy Tinh lòng tơ vương - Sơn Tinh có một mắt ở trán - Thủy Tinh râu ria quăn xanh rì - Một thần phi bạch hổ trên cạn - Một thần cưỡi lưng rồng uy nghi. Hướng dẫn làm bài: Câu 1 -Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh - Thể loại: Truyền thuyết Câu 2 - Sơn Tinh: thần núi. Thủy Tinh: thần nước. bạch hổ: hổ trắng - Nguồn gốc: Từ mượn tiếng Hán Câu 3 4
  5. - Từ râu ria là từ ghép - Dù hình thức, từ râu ria có sự lặp lại âm đầu r, nhưng khi tách ra, cả hai tiếng râu và ria đều có nghĩa nên râu ria là từ ghép Câu 4 Sơn Tinh, Thủy Tinh CN/lòng tơ vương VN Sơn Tinh CN /có một mắt ở trán VN Thủy Tinh CN /râu ria quăn xanh rì VN Một thần CN / phi bạch hổ trên cạn VN Một thần CN / cưỡi lưng rồng uy nghi VN b. Bài tập 2: Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: "Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn. Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Người ta gọi chàng là Thủy Tinh. Một người là chúa vùng non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. Vua Hùng băn khoăn không biết nhận lời ai, từ chối ai, bèn cho mời các Lạc hầu vào bàn bạc. Xong vua phán: - Hai chàng đều vừa ý ta, nhưng ta chỉ có một người con gái, biết gả cho người nào? Thôi thì ngày mai, ai đem sính lễ đến trước, ta sẽ cho cưới con gái ta. Câu 1: Đoạn văn trên trích ở tác phẩm nào? Thuộc thể loại gì? Câu 2: Nhân vật chính trong văn bản chứa đoạn văn trên là những ai? Tìm những chi tiết giới thiệu về các nhân vật đó? Câu 3: Giải thích nghĩa của từ "băn khoăn" ? Cho biết em giải thích nghĩa của từ bằng cách nào? Câu 4: Tìm các từ láy có trong đoạn văn trên. 5
  6. Câu 5: Hãy viết đoạn văn trình bày ý nghĩa biểu tượngcủa những nhân vật chính em vừa tìm được trong đoạn văn. Hướng dẫn làm bài: Câu 1 -Văn bản: Sơn Tinh Thủy Tinh - Thể loại: Truyền thuyết Câu 2 - Biện pháp tu từ: Nhân hóa (núi Trùm Cát : đứng sừng sững, uy nghi, trầm mặc, những con sóng nhỏ mơn man vỗ vào bờ cát) - Tác dụng: Làm cảnh vật dưới trăng thêm lung linh, sống động, giàu sức sống, gần gũi với con người Câu 3 - Từ băn khoăn: không yên lòng vì đang có điều phải suy nghĩ, cân nhắc. - Giải thích bằng cách trình bày khái niệm mà từ biểu thị Câu 4 - Từ láy: lấp loáng, sừng sững, mơn man. Câu 5: HS trình bày hình thức đoạn văn, có câu chủ đề Hướng dẫn làm bài Xác định vấn đề: Ý nghĩa của nhân vật chính tức là ý nghĩa của nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh Câu mở đoạn: Trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh, hai nhân vật Sơn Tinh và Thủy Tinh mang nhiều ý nghĩa tượng trưng sâu sắc. Thân đoạn: - Thủy Tinh: chính là hiện tượng lũ lụt ghê gớm hằng năm, - Sơn Tinh chính là lực lượng cư dân Việt cổ đắp đê chống lũ lụt, là mơ ước chinh phục, chế ngự thiên tai của nhân dân ta. Kết đoạn:Sơn Tinh, Thủy Tinh là những nhân vật hoang đường, không có thật, thể hiện trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân ta. Qua đó, ta có thể thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động, những quan niệm về con người, về thiên nhiên của cha ông ta từ cách đây hàng mấy nghìn năm. III. Ai ơi mồng 9 tháng 3 1. Tác giả: Anh Thư. 2. Tác phẩm. a. Xuất xứ: Báo điện tử Hà Nội mới, 2004. b. Thể loại: VB thông tin. c. PTBĐ chính: Thuyết minh. d. Bố cục: 3 phần: - Phần 1: một từ đầu --> “ đồng bằng Bắc Bộ”: Bộ giới thiệu về Hội Gióng. - Phần 2: tiếp theo --> “ viên hầu cận ”: tiến trình hội Gióng. - Phần 3: Còn lại: Ý nghĩa của hội Gióng. e. Nội dung, ý nghĩa. 6
  7. Giới thiệu về lễ hội đền Gióng, qua đó thể hiện được nét đẹp văn hóa tâm linh và truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc. g. Nghệ thuật. - Trật tự thời gian khi tường thuật sự kiện. - Cách triển khai nội dung trong từng phẩn, mục: mở đầu - diễn biến - kết thúc - tổng kết ý nghĩa, giá trị. - Ngôn ngữ: giản dị, rõ ràng, có hàm lượng thông tin cao. Đặc điểm của VB thông tin tường thuật lại một sự kiện. - Sử dụng các phương thức thuyết minh ngắn gọn, súc tích. C. Ôn tập tiếng Việt I. Nghĩa của từ (Từ Hán Việt): - Để giải nghĩa từ, có thể dựa vào từ điển, nghĩa của từ dựa vào câu văn, đoạn văn mà từ đó xuất hiện, với từ Hán Việt, có thể giải nghĩa từng thành tố cấu tạo nên từ. II. Từ ghép và từ láy: - Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa. - Từ láy là những từ phức có quan hệ láy âm. III. Cụm từ (cụm động từ, cụm tính từ) - Cụm từ: Nhóm, tập hợp nhiều từ - Tính từ: Từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng và hoạt động. - Cụm tính từ là tập hợp từ, gồm tính từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau tính từ trung tâm ấy. * Cấu tạo: - Cụm tính từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là tính từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho tính từ ý nghĩa về + Mức độ (rất, hơi, khá,...), + Thời gian (đã, đang, sẽ,...), + Tiếp diễn (vẫn, còn,...). + Phần phụ sau: thường bổ sung cho tính từ những ý nghĩa về : + Phạm vi (giỏi toán), + So sánh (đẹp như tiên), + Mức độ (hay ghê),... - Động từ: Từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật, hiện tượng. - Cụm động từ là tập hợp từ, gồm động từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau động từ trung tâm ấy. - Cụm động từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là động từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho động từ ý nghĩa về + Thời gian(đã, đang, sẽ,...) +Khẳng định/phủ định(không, chưa, chẳng...) + Tiếp diễn(đều, vẫn, cứ,...). 7
  8. + Mức độ của trạng thái (rất, hơi, quá,...) + Phần phụ sau: thường bổ sung cho động từ những ý nghĩa về : + Đối tượng (đọc sách), + Địa điểm (đi Hà Nội), + Thời gian (làm việc từ sáng),... - Từ HV: Từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, dùng theo cách cấu tạo, cách hiểu, đôi khi có đặc thù riêng của người Việt, II. So sánh - So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. I. Nghĩa của từ (Từ Hán Việt): - Để giải nghĩa từ, có thể dựa vào từ điển, nghĩa của từ dựa vào câu văn, đoạn văn mà từ đó xuất hiện, với từ Hán Việt, có thể giải nghĩa từng thành tố cấu tạo nên từ. II. Từ ghép và từ láy: + Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa. + Từ láy là những từ phức có quan hệ láy âm. III. Cụm từ (cụm động từ, cụm tính từ) - Cụm từ: Nhóm, tập hợp nhiều từ - Tính từ: Từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng và hoạt động. - Cụm tính từ là tập hợp từ, gồm tính từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau tính từ trung tâm ấy. * Cấu tạo: Cụm tính từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là tính từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho tính từ ý nghĩa về + Mức độ (rất, hơi, khá,...), + Thời gian (đã, đang, sẽ,...), + Tiếp diễn (vẫn, còn,...). + Phần phụ sau: thường bổ sung cho tính từ những ý nghĩa về : + Phạm vi (giỏi toán), + So sánh (đẹp như tiên), + Mức độ (hay ghê),... - Động từ: Từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật, hiện tượng. - Cụm động từ là tập hợp từ, gồm động từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau động từ trung tâm ấy. * Cấu tạo của cụm động từ: Cụm động từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là động từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho động từ ý nghĩa về + Thời gian(đã, đang, sẽ,...) +Khẳng định/phủ định(không, chưa, chẳng...) 8
  9. + Tiếp diễn(đều, vẫn, cứ,...). + Mức độ của trạng thái (rất, hơi, quá,...) + Phần phụ sau: thường bổ sung cho động từ những ý nghĩa về : + Đối tượng (đọc sách), + Địa điểm (đi Hà Nội), + Thời gian (làm việc từ sáng),... - Từ HV: Từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, dùng theo cách cấu tạo, cách hiểu, đôi khi có đặc thù riêng của người Việt, II. So sánh - So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. I. Nghĩa của từ (Từ Hán Việt): - Để giải nghĩa từ, có thể dựa vào từ điển, nghĩa của từ dựa vào câu văn, đoạn văn mà từ đó xuất hiện, với từ Hán Việt, có thể giải nghĩa từng thành tố cấu tạo nên từ. II. Từ ghép và từ láy: + Từ ghép là những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có quan hệ với nhau về nghĩa. + Từ láy là những từ phức có quan hệ láy âm. III. Cụm từ (cụm động từ, cụm tính từ) - Cụm từ: Nhóm, tập hợp nhiều từ - Tính từ: Từ chỉ đặc điểm, tính chất của sự vật, hiện tượng và hoạt động. - Cụm tính từ là tập hợp từ, gồm tính từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau tính từ trung tâm ấy. * Cấu tạo: Cụm tính từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là tính từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho tính từ ý nghĩa về + Mức độ (rất, hơi, khá,...), + Thời gian (đã, đang, sẽ,...), + Tiếp diễn (vẫn, còn,...). + Phần phụ sau: thường bổ sung cho tính từ những ý nghĩa về : + Phạm vi (giỏi toán), + So sánh (đẹp như tiên), + Mức độ (hay ghê),... - Động từ: Từ chỉ hoạt động, trạng thái của sự vật, hiện tượng. - Cụm động từ là tập hợp từ, gồm động từ trung tâm và một số từ ngữ phụ thuộc đứng trước, đứng sau động từ trung tâm ấy. * Cấu tạo của cụm động từ: Cụm động từ gồm ba phần: + Phần trung tâm ở giữa: là động từ + Phần phụ trước: Thường bổ sung cho động từ ý nghĩa về 9
  10. + Thời gian(đã, đang, sẽ,...) +Khẳng định/phủ định(không, chưa, chẳng...) + Tiếp diễn(đều, vẫn, cứ,...). + Mức độ của trạng thái (rất, hơi, quá,...) + Phần phụ sau: thường bổ sung cho động từ những ý nghĩa về : + Đối tượng (đọc sách), + Địa điểm (đi Hà Nội), + Thời gian (làm việc từ sáng),... - Từ HV: Từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, dùng theo cách cấu tạo, cách hiểu, đôi khi có đặc thù riêng của người Việt, II. So sánh - So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác để tìm ra nét tương đồng và khác biệt giữa chúng. III. Dấu chấm phẩy: - Vị trí: Trong câu, dấu chấm phẩy nằm ở đầu hoặc cuối câu - Công dụng của dấu chấm phẩy: + Đánh dấu ranh giới giữa các vế trong một câu ghép có cấu tạo phức tạp. + Đánh dấu các bộ phận trong một phép liệt kê phức tạp. IV. Điệp ngữ 2. Khái niệm: Điệp ngữ là biện pháp tu từ lặp lại một từ ngữ (đôi khi cả một câu) 2. Tác dụng: làm nổi bật ý muốn nhấn mạnh, tăng ự gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt. 3. Các kiểu điệp ngữ: Điệp ngữ có 3 dạng: + Điệp ngữ nối tiếp: là các từ ngữ được điệp liên tiếp nhau, tạo ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến. + Điệp ngữ cách quãng + Điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng) V. Luyện tập 1. Bài tập 1 Trong truyện Thánh Gióng (Nguyễn Đồng Chi kể) có những cụm từ: lớn như thổi (miêu tả Gióng), hét lên một tiếng như tiếng sấm (miêu tả tiếng hét của Gióng), phi như bay (miêu tả ngựa của Gióng), loangloáng như chớp giật (miêu tả lưỡi gươm của Gióng), khóc như ri (miêu tả tiếng kêu khóc của quân giặc). Giải thích nghĩa của mỗi cụm từ trên và cho biết biện pháp tu từ nào được dùng và chỉ ra tác dụng của việc dùng biện pháp tu từ đó trong những cụm từ trên. Hướng dẫn làm bài: * Nghĩa của mỗi cụm từ và tác dụng của việc dùng biện pháp tu từ so sánh trong những cụm từ: - Nghĩa của cụm từ + Lớn như thổi: lớn rất nhanh, thay đổi một cách nhanh chóng. + Hét lên như một tiếng sấm: âm thanh to vang như sấm. + Phi như bay: Tốc độ nhanh đến chóng mặt, nhanh và xa. 10
  11. + Loang loáng như chớp giật: Bóng nhẵn, phản chiếu ánh sáng như tia chớp. - Biện pháp tu từ được dùng trong các cụm từ trên: So sánh. * Tác dụng của việc dùng biện pháp tu từ so sánh này: Đặc tả Thánh Gióng là một người anh hùng phi thường, khẳng định sức mạnh,, tầm vóc anh hùng. 2. Bài tập 2 Viết đoạn văn (5-7 câu) nêu suy nghĩ của em về nhân vật Thánh Gióng. Trong đoạn văn có sử dụng từ ghép, từ láy, biện pháp nghệ thuật so sánh. Đoạn văn tham khảo Đọc truyện Thánh Gióng em rất ấn tượng với nhân vật Gióng. Gióng không phải là đứa trẻ tật nguyền. Ba năm không nói năng nhưng lời nói đầu tiên của Gióng là lời yêu nước; còn đang nằm ngửa mà đòi có áo giáp sắt, ngựa sắt, roi sắt để đánh giặc! Trong khi chờ đợi thì lớn nhanh như thổi: "Cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã căng đứt chỉ". Dân gian truyền tụng rằng: ăn thì "bảy nong cơm với ba nong cà"; uống thì "uống một hơi, nước cạn đi khúc sông". Vậy là Gióng cũng được nuôi dưỡng bằng cơm, gạo, những thứ vẫn nuôi sống con người. Gióng không hề xa lạ với nhân dân. Gióng là con em của nhân dân. Gióng ăn nhiều, ăn khoẻ phi thường như vậy là để cho mau lớn. Phải lớn nhanh thì mới kịp đi cứu nước được chứ. Việc cứu nước là rất hệ trọng và cấp bách nên càng thôi thúc Gióng phải lớnthật nhanh. Mà Gióng lớn không chỉ do sự nỗ lực của mình mà còn nhờ sự chăm bẵm của toàn dân. Gióng tiêu biểu cho sức mạnh của cộng đồng. Gióng tượng trưng cho sức mạnh của toàn dân 3. Bài tập 3. Đọc đoạn văn sau trong truyện Sơn Tinh, Thuỷ Tinh và cho biết công dụng của dấu chấm phẩy trong đoạn văn: Một người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cơn bão, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Người ta gọi chàng là Thuỷ Tinh. Hướng dẫn làm bài: Công dụng của dấu chấm phẩy trong đoạn văn là: - Dấu chấm phẩy trong câu văn: Vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi; vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi: Đây là một câu ghép được tạo thành từ 2 vế câu. Giữa về câu thứ 1 (phía đông) đã có dấu phẩy nên ranh giới giữa 2 vế trong câu ghép cần được đánh dấu bằng dấu chấm phẩy. - Dấu chấm phẩy trong câu văn: Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về: Đây là một câu ghép được tạo thành từ 2 vế câu. Giữa về câu thứ 1 (gió đến) đã có dấu phẩy nên ranh giới giữa 2 vế trong câu ghép cần được đánh dấu bằng dấu chấm phẩy. 4. Bài tập 4. Tìm câu văn có sử dụng điệp từ, điệp ngữ trong văn bản “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” và nêu tác dụng của biện pháp tu từ này? Hướng dẫn làm bài: Các câu văn có sử dụng điệp từ, điệp ngữ trong văn bản “Sơn Tinh, Thuỷ Tinh” và tác dụng của biện pháp tu từ này: 11
  12. - Một người là chúa miền non cao, một người là chúa vùng nước thẳm, cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng. - Tác dụng: Nhấn mạnh sự ngang tài, ngang sức. Mỗi người một vẻ của Sơn Tinh, Thuỷ Tinh. - Một người ở vùng núi Tản Viên, có tài lạ: vẫy tay về phía đông, phía đông nổi cồn bãi, vẫy tay về phía tây, phía tây mọc lên từng dãy núi đồi. [ ] Một người ở miền biển, tài năng cũng không kém: gọi gió gió đến, hô mưa mưa về. - Tác dụng: Liệt kê các phép lạ của Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, nhấn mạnh sự dứt khoát, hiệu nghiệm tức thì. - Nước ngập ruộng đồng, nước tràn nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước. - Tác dụng: Liệt kê những sự vật bị ngập, nhấn mạnh việc nước ngập mọi nơi, lần lượt, tăng tiến (từ xa đến gần, từ ngoài vào trong), qua đó thể hiện sức mạnh cũng như sự tức giận của Thuỷ Tinh. D. Viết bài văn thuyết minh thuật lại một sự kiện (một sinh hoạt văn hóa) I. Khái niệm văn bản thuyết minh Văn bản thuyết minh là văn bản thông dụng dùng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân, của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích. II. Đặc điểm của văn thuyết minh: - Tính khách quan, chính xác, mang lại lợi ích cho con người phục vụ công việc và cuộc sống tốt nhất - Trình bày văn bản rõ ràng, mạch lạc, đủ nội dung đúng ý, kết cấu phân chia rõ - Người viết am hiểu về nội dung mình đang viết tới để trình bày đúng, đủ ý, truyền đạt cho những người đọc hiểu và sử dụng có ích. III. Các phương pháp thuyết minh Có 6 phương pháp thuyết minh: 1. PP nêu định nghĩa, giải thích. Mô hình : A là B - A : đối tượng cần thuyết minh. - B: tri thức về đối tượng. - Là: từ thường được dùng trong phương pháp định nghĩa 2. PP liệt kê. - PP liệt kê là: kể ra lần lượt các đặc điểm, tính chất của sự vật theo một trình tự nào đó. 12
  13. - Vai trò: Giúp người đọc hiểu sâu sắc, toàn diện và có ấn tượng về nội dung được thuyết minh. 3. PP nêu ví dụ. - PP nêu ví dụ là: Dẫn ra những ví dụ cụ thể để người đọc tin vào nội dung thuyết minh. - Vai trò: Các ví dụ có thể có tác dụng thuyết phục người đọc, khiến người đọc tin. 4. PP dùng số liệu. - PP dùng số liệu là: Dùng các số liệu chính xác để khẳng định độ tin cậy cao của các tri thức được cung cấp. - Tác dụng: làm cho người đọc tin vào nội dung thuyết minh. 5. PP so sánh. - PP so sánh là: đối chiếu hai đối tượng cùng loại nhằm làm nổi bật các đặc điểm, tính chất của đối tượng cần thuyết minh. - Vai trò: làm nổi bật đặc điểm của đối tượng thuyết minh 6. PP phân loại, phân tích. - PP phân tích là chia nhỏ đối tượng ra để xem xét, còn phân loại là chia đối tượng vốn có nhiếu cá thể thành từng loại theo tiêu chí. - Tác dụng: Giúp cho người đọc hiểu dần từng mặt của đối tượng một cách có hệ thống, cơ sở để hiểu đối tượng một cách đầy đủ, toàn diện. IV. Yêu cầu đối với bài văn thuyết minh về một sự kiện ( một sinh hoạt văn hóa) - Xác định rõ người tường thuật tham gia hay chứng kiến sự kiện và sử dụng ngôi tường thuật phù hợp (Sử dụng ngôi kể thứ nhất: xưng “tôi” hoặc “chúng tôi”) - Giới thiệu được sự kiện cần thuật lại, nêu được bối cảnh ( không gian và thời gian) - Thuật lại được điễn biến chính, sắp xếp các trình tự theo một trình tự hợp lí. - Tập trung vào một số chi tiết tiêu biểu, hấp dẫn, thu hút dược sự chú ý của người đọc. - Nêu được cảm nghĩ, ý kiến của người viết về sự kiện. V. Thực hành viết theo các bước 1. Trước khi viết 13
  14. a. Lựa chọn đề tài + Hãy nhớ lại một sự kiện ( một sinh hoạt văn hóa) mà em trực tiếp tham gia hoặc tìm hiểu, quan sát được qua các phương tiện thông tin. + Có thể chọn một số đề tài sau: Hội chợ sách, hội chợ xuân ở thành phố, làng quê của em, lễ hội dân gian, hội khỏe phù đổng ở trường hoặc địa phương em. b. Tìm ý Sau khi lựa chọn được sự kiện định tường thuật. Hãy tìm ý cho bài viết bằng một số hoạt động sau: Sự kiện gì? Mục đích của việc tổ chức sự kiện là gì ? Sự kiện xảy ra khi nào? ở đâu? Những ai đã tham gia sự kiện? Họ đã nói và làm gì? Sự kiện diễn ra theo trình tự thế nào? Ấn tượng, cảm nghĩ của em hoặc của những người tham gia vể sự kiện là gì? c. Lập dàn ý - Mở bài: Giới thiệu sự kiện (Không gian, thời gian, mục đích tổ chức sự kiện). - Thân bài: Tóm tắt diễn biến của sự kiện theo trình tự thời gian + Những nhân vật tham gia sự kiện. + Các hoạt động chính trong sự kiện ; đặc điểm, diễn biến của từng hoạt động. + Hoạt động để lại ấn tượng sâu sắc nhất - Kết bài: Nêu ý nghĩa của sự kiện và cảm nghĩ của người viết 2. Viết bài 3. Chỉnh sửa bài viết VI. Luyện tập Đề bài: Em hãy thuyết minh về một lễ hội/một sự kiện văn hóa để lại trong em nhiều ấn tượng đẹp đẽ nhất. - GV tháo gỡ bằng cách đặt thêm câu hỏi phụ:Em biết những ngày lễ lớn nào ở nước ta ? Trong những ngày lễ đó thì ngày nào thường được tổ chức thành lễ hội? Em hãy nêu tên lễ hội đó? Lễ hội đó thường diễn ra ở ở đâu? Vào thời điểm nào? Diễn ra như thế nào? Dàn ý thuyết minh về lễ hội đền Hùng Lễ hội đền Hùng là lễ hội truyền thống lớn nhất của dân tộc Việt Nam, để ghi nhớ công ơn dựng nước của 18 vị vua Hùng. 1. Mở bài: - Giới thiệu về lễ hội đền Hùng, dẫn dắt vào đề bài. - Hướng dẫn làm bài Cứ hàng năm, những người con dân tộc Việt luôn hướng về quê hương Phú Thọ thân yêu dịp 10/3 âm lịch để tưởng nhớ công ơn của các vua Hùng khi có công to lớn trong việc dựng nước và giữ nước từ hàng nghìn năm trước. Đây cũng là dịp mà lễ hội Đền Hùng- một trong những lễ hội lớn nhất của nước ta diễn ra và dù có đi đâu, ở đâu con cháu Việt Nam đều muốn đến đây để thể hiện lòng biết ơn của mình. 2. Thân bài: 14
  15. a. Lịch sử lễ hội - Đây là lễ hội đã có từ lâu đời -Từ thời Đinh, Lý, Tiền Lê, thời Trần, người dân cả nước đều tụ hội về đây lễ bái gửi lòng cảm tạ thành kính đến công ơn của mười tám đời vua Hùng. - Thời gian diễn ra mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm + Năm lẻ: Lễ hội được tổ chức bởi tỉnh Phú Thọ + Năm chẵn: Trung ương phối hợp với ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ và bộ văn hóa tổ chức 2. Quy mô - Đây được xem là quốc lễ vì vậy có quy mô cực kỳ lớn. 3. Hình thức - Về phần lễ: + Bao gồm lễ rước kiệu và lễ dâng hương + Lễ rước kiệu được diễn ra trong không khí đầy long trọng với cờ, lộng, hoa đầy màu sắc. + Đoàn đại biểu trung ương, tỉnh và thành phố tập trung tại một địa điểm cùng đoàn xã tiểu binh rước hoa long trọng tới chân núi Hùng. + Sau khi rước hoa đến đền, đoàn người kính cẩn dâng lễ vào thượng cung + Đại biểu đại diện bộ Văn hoá thay mặt cho lãnh đạo tỉnh và nhân dân cả nước trịnh trọng đọc chúc căn lễ tổ. + Lễ dâng hương là nghi thức mà mỗi người con đều mong muốn thắp lên đền thờ nén nhang thành kính, nhờ hương khói nói hộ tâm nguyện của lòng mình với tổ tiên. Về phần hội: + Các trò chơi dân gian được diễn ra nhiều chọi gà, đu quay, đấu vật. + Dân ca diễn xướng, hát quan họ hay kịch nói được thi tài giữa các làng, các thôn. III. Kết bài - Khái quát lại về lễ hội đền Hùng - Nếu cảm nghĩ của em về lễ hội - Hướng dẫn làm bài Lễ hội đền Hùng là một lễ hội lớn, là một trong những nét đẹp truyền thống của dân tộc ta, niềm tự hào với nguồn gốc con rồng cháu tiên. Đây cũng là một cơ hội để chúng ta bày tỏ lòng thành kính biết ơn đối với công lao của 18 đời vua Hùng. Chúng ta- những thế hệ sau phài có trách nhiệm gìn giữ nét đẹp truyền thống này, gìn giữ cội nguồn của chúng ta. Đề 2: Thuyết minh về lễ hội Gióng DÀN Ý CHI TIẾT 1. MỞ BÀI - Một lễ hội tôn giáo của làng Phù Đổng. - Nét đẹp truyền thống của người dân nước Nam. 2. THÂN BÀI a. Nguồn gốc, xuất xứ Xuất phát từ truyền thuyết Thánh Gióng. a. Đặc điểm 15
  16. - Hội làng Phù Đổng hàng năm diễn ra ngày 9 tháng Tư âm lịch. - Các làng trong tổng đều đến tế, tất cả đến trăm người của họ các làng mặc áo thụng xanh, đội mũ đen, đi hia đề trắng. Họ đứng thành hàng hai bên, tay cầm hốt ngả. - Chủ tế đi từng bước nhịp nhàng hai tay chấp lại nâng cao chén rượu, có hai trợ tế đi theo, đến quỳ trước một trong các cửa của hậu cung. -Nhạc hạ thấp dần gần như không nghe thấy nữa. Bỗng vang lên một tiếng ầm ầm và hai cánh cửa hậu cung bỗng nhiên hé mở ra. Bên trong tối om, bỗng hiện ra một nhân vật lạ lùng. Đầu chít một khăn đen dài bỏ xõa ra sau lưng, và quan lấy thân mình; nửa dưới mặt bịt vải vàng, thắt lại sau gáy chỉ để lộ đôi mắt. - Nhân vật này đi ra quỳ xuống ngưỡng cửa hậu cung, nhận chén rượu trên một cái mâm đồng, rồi đi giật lùi dần vào hậu cung. - Hai cánh cửa đóng lại từ từ. Mọi người phủ phục xuống lễ. - Một giây yên lặng rồi nghe một tiếng chuông từ hậu cung vẳng ra. rượu đã dâng lên bàn thờ Thánh rồi, và nhạc lại cử, trong khi mọi người trở về chỗ chuẩn bị dâng lễ khác tiếp theo. - Lễ cử hành nghiêm trang thành kính. - Thật ngạc nhiên khi thấy những người nông thôn bình thường đã biến đổi lạ lùng vì tính cách long trọng của nghi thức. Vì cử chỉ của họ thường rụt rè bỗng đường hoàng khoáng đạt lên, thái độ của họ thường khúm núm, e dè bỗng trở thành cao quý trong khi hành lễ vì lòng biết ơn của người yêu nước. - Tiếp đó là một nghi thức ảnh hưởng của Đạo giáo; con hổ tượng trưng cho điều ác và kẻ thù đến xin quy phục Đức Thánh. Người đóng vai con hổ mặc áo vài vẽ vằn vện, đội cái đầu bằng giấy bồi có hai chục người hóa trang di theo, hát và gõ sênh. Hổ đến trước bàn thờ múa và phù phục hồi lâu... - Tiếp theo là những cảnh diễn lại lịch :sử đánh trận giả, và đoàn tù binh diễu qua trước đền. - Một trăm trai tráng đón quân Nam họ quấn vai màu đen quanh bụng, đóng khố bỏ thõng múi ra phía trước, cởi trần, chỉ khoác một dải vải hồng trên vai bên phải, buộc hai đâu lại ở bên sườn trái và buông thõng xuống; lại còn đeo cái túi lụa nhỏ hình bán nguyệt, có tua lụa dài. Đầu đội mũ đen, phía sau có rèm che gáy giống như là những tượng trong đền Lý Bát Đềở Đình Bảng. - Bọn tướng giặc thì do hai mươi bốn cô gái đồng trinh đóng. - Nhiều cô gái trong đám ấy đến mười tuổi. Mỗi cô đều mặc quần áo lụa màu sắc tươi thắm, đeo kiềng, hoa tai bằng vàng, mỗi làng được cử đến một cô và phải lo may mặc cho người của mình. - Các cô chỉ đứng mỗi người trên một cái bệ hoàn toàn im lặng, không cử động, cách nhau độ 10 đến 15m; quanh họ là đám đàn bà làng họ. - Hai mươi bốn cô xếp thành hàng trên mặt để phía trước đền rải dải đề cho đám rước diễu qua trước mặt. - Bốn cô khác đóng vai bốn tướng giặc bị giết trong trận, một cô mặc áo vàng, đội mũ thái tử đóng vai con vua Trung Quốc. 16
  17. - Một trăm quân sĩ nước Nam múa rất nhiều điệu thật dẻo và thật nhịp nhàng tiến thoái rất đẹp... c. Lễ hội nhắc nhở con cháu nhớ về người anh hùng dân tộc: Thánh Gióng. - Khơi gợi trong lòng con cháu Việt Nam lòng yêu nước và lòng biết ơn sâu sắc. III. KẾT BÀI Lễ hội Gióng là một trong những lễ hội truyền thống cần phải gìn giữ và phát huy. BÀI VĂN THAM KHẢO Cách Hà Nội 10km bên phải đường đi Bắc Ninh có một làng phù mật: Phù Đổng, Hội làng Phù Đổng hàng năm kỷ niệm một sự kiện lịch sử đã diễn ra trước công nguyên bốn thế kỷ. Đó là chiến thắng quân xâm lược của nước Văn Lang. Quân tiên phong của họ đã tiến đến Bắc Ninh; thua trận hoàng tử Trung Quốc là TchaoOuangvà bốn tướng bị giết, nghe tin giặc từ phương Bắc tràn xuống xâm phạm bờ cõi, Hùng Vương bèn sai Lý Công Dật cầm quân chống cự. Hai bên giao chiến ở hai mạn núi Tam Lung và Lý Công Dật thua phải rút về Long Đô, rồi tự sát. Cả nước lo sợ, nhà vua phải phái sứ đi triệu tập hiền tài. Ở Phù Đổng có ông lão nghèo sáu mươi tuổi sinh được đứa con đã ba tuổi mà chỉ im không biết ngồi, không nói cũng không cười, tương truyền là bà mẹ đã có thai vì đã đem chân mình ướm lên một lốt chân to lớn khi đi qua Bến Tàu (Thị Cầu). Nghe mẹ than phiền vì mình vô dụng, chú bé bỗng biết nói và bảo mẹ mời sứ giả vào, xin nhà vua cho đánh giặc, cho con ngựa sắt nghìn cân. chiếc roi sắt trăm cân. Khi ngựa đem đến chú bé không bằng lòng vì ngựa rỗng, không có gan ruộ bất phải đánh thêm cho đủ. Xong cậu mới đòi ăn, mẹ không chạy đủ, cả làng phải mang cơm gạo đến, ăn suốt hai ngày thì cao to lớn lên phi thường, cậu bé bèn lên ngựa cầm roi đi đánh giặc. Hai anh em họ Nguyễn ở Nghiêm Xá đang cày cũng bó trâu vác cày chạy theo. Hùng Vương cùng cho hoàng tử thứ chín là Long Sơn và thứ mười là Uy Sơn theo Gióng đánh giặc. Quân Văn Lang chia làm ba đạo, mỗi đạo ba vạn đường. Đánh nhau to ở chân núi Trâu. Hoàng tử Trung Quốc và bốn tướng bị giết, quân giặc bị đuổi chạy dài. Hai mươi bốn tướng khác nhau bị bắt, thề không sang đánh Văn Lang nữa, đều được tha về. Hoàng tử Trung Ọuổc chết thì chôn ở chân núi Vệ Linh, nay còn mả. Giữa trận đánh, roi sắt bị gãy, Gióng bèn nhổ tre đánh tiếp. Thắng xong, Gióng phi ngựa về phía Kim Anh, tới núi Vu Linh cởi áo giáp treo lên cành cây, vứt bụi tre lại, rồi bay lên trời, còn để lại lốt chân của mình trên đá ở đỉnh núi. Con ngựa thì tự mình chạy về Đông Vi. Nơi ngựa dừng lại nay là làng Phù Ninh, đó có đền thờ. Nơi sinh Thánh cũng có đền, tại chỗ nền nhà cũ có bia đá. Năm 1020 nhà Lý lập hai đền thờở Phù Đổng và ở sườn núi Vu Linh, ở đó có tượng. Đen Phù Đổng gồm ba lớp, trong cùng là hậu cung, cột gỗ to, mái cong vút, rồng trên nóc vảy đều toàn là bằng mảnh sứ xanh. Đường đi từ cổng đền đến hậu cung lát đá cẩm thạch đen đẽo thô sơ nhưng những bước chân của thiện nam tín nữ bao đời đã làm cho nhẵn bóng, cổng đồ sộ ba cửa, lợp mái rộng. Kinh lược sử Bắc Kỳ vừa tu bổ và có bia. Hai bên cổng phía trong có 17
  18. hai sư tử đá. Phía ngoài là một đôi rồng năm móng. Trước cửa giữa có một con rùa đá cao hơn mặt đất một chút. Hội làng Phù Đổng hàng năm diễn ra ngày 9 tháng Tư âm lịch. Các làng trong tổng đều đến tế, tất cả đến trăm người của họ các làng mặc áo thụng xanh, đội mu đen, đi hia để trắng. Họ đứng thành hàng hai bên, tay cầm hốt ngà. Đàn sáo dịu dàng không thể tưởng tượng được, hài hòa làm một cách bất ngờ. Chủ tế đi từng bước nhịp nhàng hai tay chắp lại nâng cao chén rượu, có hai trợ tế đi neo, đến quỳ trước một trong các cửa cùa hậu cung. Nhạc hạ thấp dần gần như không nghe thấy nữa. Bỗng vang lên một tiếng ầm ầm và hai cánh cửa hậu cung bỗng nhiên hé mờ. Bên trong tối om, bỗng hiện ra một nhân vật lạ lùng. Đầu chít một khăn đen dài bó ra sau lưng và quấn lấy thân mình; nửa dưới mặt bịt vái vàng, thắt lại sau gáy chỉ để lộ đôi mắt. Nhân vật ấy đi ra quỳ xuống ngưỡng cửa hậu cung, nhận chén rượu trên một cái mâm đồng, rồi đi giật lùi dần vào hậu cung. Hai cánh cửa đóng lại từ từ. Mọi người phủ phục xuống lễ. Một giây yên lặng rồi nghe một tiếng chuông từ hậu cung vẳng ra, rượu đà dâng lên bàn thờ Thánh rồi, và nhạc lại cử, trong khi mọi người trở về cho chuẩn bị dâng lễ khác tiếp theo. Lễ cử hành nghiêm trang thành kính. Chắc chắn là chưa bao giờ có lễ mi-xa nào của giáo hoàng cử hành mà người dự lễ yên tĩnh chú ý hơn, mà có những người trợ tế thấm nhuần sâu sắc hơn phận sự đáng kính của họ và việc làm thiêng liêng của họ hơn. Thật ngạc nhiên khi thấy những người nông thôn bình thường đã biến đổi lạ lùng vì tính cách long trọng của nghi thức, và cử chỉ cua họ thường rụt rè bỗng đường hoàng khoáng đạt lên, thái độ của họ thường khúm núm, e dè bỗng trở thành cao quý trong khi hành lễ vì lòng biết ơn của người yêu nước. 18