Tài liệu Phân tích tác phẩm thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu Phân tích tác phẩm thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
tai_lieu_phan_tich_tac_pham_tho_mua_xuan_nho_nho_cua_thanh_h.docx
Nội dung text: Tài liệu Phân tích tác phẩm thơ "Mùa xuân nho nhỏ" của Thanh Hải
- 1 MÙA XUÂN NHỎ NHỎ - Thanh Hải - - Thanh Hải là một trong những nhà thơ có công xây dựng nền văn học cách mạng miền Nam ngày từ những ngày đầu. Thơ ông là tiếng thét căm thù tội ác của quân xâm lược, là khúc tâm tình của người miền Nam gửi ra miền Bắc. - “Mùa xuân nho nhỏ” là sáng tác năm 1980, khi ông đang nằm trên giường bệnh, một tháng sau nhà thơ qua đời. - Với giọng điệu vừa thiết tha trìu mến, vừa trầm lắng suy tư, bài thơ đã vẽ lên bức tranh mùa xuân của thiên nhiên, đất nước tươi đẹp cùng những khát vọng hiến dâng rất đỗi chân thành, giản dị. 1. Ba khổ thơ đầu, tác giả đã diễn tả ấn tượng hình ảnh tươi đẹp của mùa xuân thiên nhiên cùng sức sống của mùa xuân đất nước. a. Khổ 1: * Bức tranh thiên nhiên mùa xuân xứ Huế thơ mộng, thanh bình và căng tràn sức sống. “Mọc giữa dòng sông xanh Một bông hoa tím biếc Ơi con chim chiền chiện Hót chi mà vang trời Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng” - Ngay hai câu mở đầu ta đã bắt gặp một cách viết khác lạ. Tác giả không viết như bình thường: “một bông hoa tím biếc mọc giữa dòng sông xanh” mà đảo lại “Mọc giữa dòng sông xanh/Một bông hoa tím biếc”. Động từ “mọc” được đảo lên đầu câu thơ là một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Thông qua phép đảo ngữ ấy, nhà thơ như muốn khắc sâu ấn tượng về sức sống trỗi dậy và vươn lên của mùa xuân. Tưởng như bông hoa tím biếc kia đang từ từ, vươn lên, xòe nở trên mặt nước xanh của dòng sông xuân. + Không gian mùa xuân rộng mở tươi tắn với hình ảnh một dòng sông trong xanh chảy hiền hoà. Cái màu xanh ấy phản ánh được màu xanh của bầu trời, của cây cối hai bên bờ, cái màu xanh quen thuộc mà ta có thể gặp ở bất kì một con sông nào ở dải đất miền Trung. + Và nổi bật trên nền xanh lơ của dòng sông là hình ảnh “một bông hoa tím biếc”, một hình ảnh thân thuộc của cánh lục bình hay bông súng,bông trang mà ta thường gặp ở các ao hồ sông nước của làng quê. Màu tím biếc ấy không lẫn vào đâu được với sắc màu tím Huế thân thương - vốn là nét đặc trưng của những cô gái đất kinh kỳ với sông Hương núi Ngự.
- 2 => Màu xanh của nước hài hoà với màu tím biếc của bông hoa tạo nên một nét chấm phá nhẹ nhàng mà sống động, đem lại một vẻ đẹp tự nhiên, hài hòa, một màu sắc đặc trưng của xứ Huế. - Tuy nhiên bức tranh thiên nhiên không chỉ có “họa” mà còn có “nhạc” bởi tiếng chim chiền chiện cất lên với muôn vàn lời ca tiếng hót, reo mừng: Ơi con chim chiềnchiện Hót chi mà vang trời. + Nhà thơ gọi “ơi” nghe sao mà tha thiết thế! Lời gọi ấy không cất lên từ tiếng nói mà cất lên từ sâu thẳm tình yêu thiên nhiên, cất lên từ tấm lòng của nhà thơ trước mùa xuân tươi đẹp với những âm thanh rộn rã. + Lời gọi ấy mới đầu nhen nhóm ở một góc trái tim, nhưng con người nhà thơ và những cảnh sắc, âm thanh kia như đã hòa vào làm một, cảm xúc từ đó mà òa ra thành lời, thật ngỡ ngàng, thật thích thú. + Cảm xúc của nhà thơ đã trào dâng thực sự qua câu hỏi tu từ: “Hót chi mà vang trời”. Thứ âm thanh không thể thiếu ấy làm sống dậy cả không gian cao rộng, khoáng đạt, làm sống dậy, vực dậy cả một tâm hồn con người đang phải đối mặt với những bóng đen ú ám của bệnh tật, của cái chết rình rập. => Dòng sông êm trôi, bông hoa lững lờ, tiếng chim rộn rã bức tranh mùa xuân xứ Huế bao giờ cũng đẹp, nhẹ nhàng, và mơ mộng như thế! - Thiên nhiên mùa xuân trao tặng con người mọi vẻ đẹp nếu con người biết mở rộng tấm lòng. Thanh Hải đã thực sự đón nhận mùa xuân với tất cả tâm hồn. Nhà thơ lặng ngắm, lặng nghe bằng cả trái tim xao động, bằng trí tưởng tượng, liên tưởng độc đáo: Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng. + Cụm từ “ giọt long lanh” gợi lên những liên tưởng phong phú và đầy thi vị. Nó có thể là giọt sương lấp lánh qua kẽ lá trong buổi sớm mùa xuân tươi đẹp, có thể là giọt nắng rọi sáng bên thềm, có thể giọt mưa xuân đang rơi Nhưng theo mạch cảm xúc của bài thơ thì có lẽ đây là giọt âm thanh của tiếng chim ngân vang, đọng lại thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn đang rạo rực tình xuân. + Phép ẩn dụ chuyển đổi cảm giác được vận dụng một cách tài hoa, tinh tế qua trí tưởng tượng của nhà thơ. Thành Hải cảm nhận vẻ đẹp của mùa xuân bằng nhiều giác quan: thị giác, thính giác và cả xúc giác. + Cử chỉ “Tôi đưa tay tôi hứng” thể hiện sự nâng niu, trân trọng của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời lúc với xuân với cảm xúc say sưa, xốn xang, rạo rực. Nhà thơ như muốn ôm trọn vào lòng tất cả sức sống của mùa xuân, của cuộc đời.
- 3 => Khổ thơ mở đầu đã mở ra một bức tranh xứ Huế thật đẹp: có hình ảnh, có màu sắc, âm thanh được họa lên từ những vần thơ có nhạc Bài thơ được viết vào tháng 11 năm 1980, khi ấy đang là mùa đông giá rét. Như vậy, hình ảnh mùa xuân được miêu tả ở đây là mùa xuân trong tâm tưởng của nhà thơ. Đối mặt với bệnh tật, thậm chí phải đối mặt với cả cái chết, vậy mà nhà thơ vẫn hướngđến mùa xuân tươi trẻ, tràn đầy sức sống, thể hiện một tâm hồn lạc quan yêu đời, một niềm khát khao cuộc sống vô bờ. Đọc những vầnthơ của ông, người đọc trân trọng hơn, yêu hơn một tâm hồn nghệ sĩ, một tìnhyêu quê hương, đất nước đến vô ngần. b. Khổ 2: Cảm nhận của tác giả về sức sống của mùa xuân đất nước - Từ cảm xúc say sưa, yêu mến mùa xuân của thiên nhiên, đất trời,Thanh Hải đã bộc lộ những cảm xúc của mình khi đất nước bước vào một mùa xuân mới: “Mùa xuân người cầm súng Lộc giắt đầy trên lưng Mùa xuân người ra đồng Lộc trải dài nương mạ Tất cả như hối hả Tất cả như xôn xao ” - Không phải ngẫu nhiên trong khổ thơ lại xuất hiện hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”. Họ là những con người cụ thể, những con người làm nên lịch sử với hai nhiệm vụ cơ bản của đất nước ta trong suốt quá trình phát triển lâu dài: chiến đấu và sản xuất, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. -Tác giả sử dụng điệp từ “mùa xuân” kết hợp với nhịp thơ nhanh, mạnh khiến người đọc có cảm tưởng sức sống mãnh liệt của mùa xuân đất trời. - Mùa xuân đến không chỉ chắp thêm đôi cánh sức mạnh cho con người mà còn chuẩn bị cho con người những “lộc” non tươi mới, căng tràn nhựa sống: + “Lộc” không chỉ là hình ảnh tả thực mà con mang ý nghĩa ẩn dụ, tượng trưng. + “Lộc” là nhành non chồi biếc của cỏ cây trong mùa xuân. + Đối với người chiến sĩ, “lộc” là cành lá ngụy trang che mắt quân thù trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đầy cam go và ác liệt. + Đối với người nông dân “lộc” là những mầm xuân tươi non trải dài trên ruộng đồng bát ngát, báo hiệu một mùa bội thu. + Nhưng đặc biệt hơn cả, “lộc” là sức sống, là tuổi trẻ, sức thanh xuân tươi mới đầy mơ ước, lí tưởng, đầy những hoài bão và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ, sôi nổi trong mỗi tâm hồn con người – tâm hồn của người lính dũng cảm, kiên cường nơi lửa đạn bom rơi – tâm hồn của người nông dân cần cù, hăng say tăng gia sản xuất. “Lộc” chính là thành quả hôm nay và niềm tin, hi vọng ngày mai. - Từ những suy nghĩ rất thực về đất nước, nhà thơ khái quát:
- 4 Tất cả như hồi hả Tất cả như xôn xao + Điệp ngữ “tất cả”, các từ láy biểu cảm “hối hả”, “xôn xao” và nhịp thơ nhanh, nhà thơ đã khái quát được cả một thời đại của dân tộc. “Hối hả” diễn tả nhịp điệu khẩn trương, tất bật của những con người Việt Nam trong giai đoạn mới, thời đại mới, trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Còn “xôn xao” lại bộc lộ tâm trạng náo nức rộn ràng. -> Ý thơ khẳng định một điều: không chỉ cá nhân nào vội vã mà cả đất nước đang hối hả, khẩntrương sản xuất và chiến đấu. Tất cả đều náo nức, rộn ràng trong mùa xuân tươiđẹp của thiên nhiên, của đất nước. -> Thanh Hải đã rất lạc quan, say mê và tin yêu khi viết nên những vần thơ này. c. Khổ 3: Nhà thơ lắng lòng mình trong những suy ngẫm về chiều dài lịch sử đất nước: “Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước”. - Tác giả nhân hóa đất nước “vất vả, gian la” làm cho hình ảnh đất nước trở nên gần gũi mang bóng dáng của người mẹ. Nghệ thuật nhân hóa còn khái quát được đặc trưng nổi bật của dân tộc Việt Nam – một đất nước với chiều dài lịch sử hàng ngàn năm đầy cam go thử thách. Trong bốn ngàn năm ấy, giang sơn gấm vóc này đã thấm bao máu, mồ hôi và cả nước mắt của các thế hệ, của những tháng năm đằng đẵng lúc hưng thịnh, lúc thăng trầm. Nhưng dù trở lực có mạnh đến đâu cũng không khuất phục được dân tộc Việt Nam: “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa”. ( Huy Cận) - Bước qua những năm tháng hào hùng của quá khứ đau thương, ở hiện tại nhà thơ hướng mắt về tương lai và thể hiện niềm tin tưởng chắc chắn về sự đi lên của đất nước qua điệp ngữ “đất nước” và hình ảnh so sánh gợi nhiều liên tưởng “Đất nước như vì sao”. + “Sao” là nguồn sáng bất diệt của thiên hà, là vẻ đẹp lung linh của bầu trời đêm, là hiện thân của sự vĩnh hằng trong vũ trụ. So sánh như thế, là tác giả đã ngợi ca đất nước trường tồn, tráng lệ, đất nước đang hướng về một tương lai tươi sáng. => Có thê nói ẩn sau câu chữ là niềm tự hào yêu mến, tin tưởng, tràn đầy lạc quan của tác giả. Mặc dù đang nằm trên giường bệnh, đang sống những tháng ngày cuối cùng của cuộc đời nhưng lời thơ của Thanh Hải vẫn tỏa sáng bản lĩnh và tình yêu thiết tha, bền chặt đối với đất nước, dân tộc.
- 5 2. Khổ 4 và 5: là khát vọng hòa nhập và hiến dâng mãnh liệt của tác giả cho cuộc đời, cho đất nước a. Khổ 4 chính là ước nguyện được hòa nhập rất đỗi chân thành của tác giả Trước mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, nhà thơ ước nguyện được hòa nhập với cuộc đời chung: “Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hào ca Một nốt trầm xao xuyến”. - Đoạn thơ có sự thay đổi trong cách xưng hô từ “tôi” chuyển sang “ta”. Nếu ở khổ thơ đầu tác giả xưng “tôi” để thể hiện những cảm nhận riêng của ông về vẻ đẹp của thiên nhiên, thì đến đây tác giả xưng “ta” – vừa là ngôi thứ nhất, số ít, vừa là ngôi thứ nhất, số nhiều, điều này giúp chúng ta thấy được những ước nguyện của riêng tác giả đã hòa vào với ước nguyện của chung mọi người, của chung dân tộc. - Ước nguyện trên được Thanh Hải thể hiện qua những hình ảnh tự nhiên, gần gũi với cuộc sống con người:“con chim, cành hoa, nốt trầm”. Những hình ảnh này đã xuất hiện ở khổ một của bài thơ. Ngay từ đầu, tác giả đã ấn tượng với nhành hoa, tiếng chim mùa xuân và đến đây tác giả muốn được làm con chim ấy để cất cao tiếng hót đem lại âm thanh vui nhộn cho đời; muốn được hóa thân thành một cành hoa khoe sắc tỏa hương để điểm tô cho vạn vật và muốn làm một nốt nhạc trầm không vút cao nhưng lại có sức đắm say, lay động lòng người. - Những hình ảnh ẩn dụ, liệt kê: “con chim, cành hoa, nốt trầm” kết hợp với điệp từ “ta làm” tạo nhịp thơ nhanh mạnh, dồn dập, góp phần khắc họa ước nguyện dù nhỏ bé, giản dị, khiêm nhường nhưng rất chân thành, tha thiết đến mãnh liệt của thi nhân. - Từ láy “xao xuyến” khép lại đoạn thơ như tạo dư âm trong lòng người đọc. Sự khát khao cống hiến của tác giả bắt nguồn từ trái tim dạt dào tình yêu và ý thức trách nhiệm đối với cuộc đời chung. Cũng như Thanh Hải, nhà thơ Tố Hữu cũng thể hiện những ước nguyện của mình trong bài thơ “Khúc ca xuân”: “Nếu là con chim, chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh. Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình?”
- 6 Qua những hình ảnh thơ giản dị, chứa đựng nhiều cảm xúc liên tưởng, nhà thơ thể hiện ý nguyện muốn cống hiến toàn bộ sức lực, tuổi trê, phần tốt đẹp nhất cho cuộc đời chung để góp phần làm nên mùa xuân lớn của đất nước. b. Khổ 5, tác giả bày tỏ khao khát được cống hiến và quan niệm về cách thức cống hiến cho cuộc đời, đất nước : “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc”. - Điều ấn tượng nhất trong khổ thơ này là nhà thơ đã sử dụng một hình ảnh ẩn dụ rất đặc sắc “Một mùa xuân nho nhỏ”. Hình ảnh này đã xuất hiện trong nhan đề của bài thơ, nó là một sáng tạo riêng, mới mẻ, độc đáo của Thanh Hải. Trong lịch sử văn học đã có nhiều nhà thơ viết về mùa xuân: “Mùa xuân chín” - Hàn Mặc Tử, “Xuân xanh” - Nguyễn Bính,... và đến Thanh Hải, ông đã góp phần làm phong phú hơn vườn thơ xuân của dân tộc bằng hình ảnh “Một mùa xuân nho nhỏ” : + Mùa xuân vốn là khái niệm thời gian vô hình, trừu tượng nhưng khi đặt cạnh tính từ “nho nhỏ” đã làm cho nó trở nên hữu hình, cụ thể. +Thanh Hải muốn làm một mùa xuân, nghĩa là muốn đem tất cả sự sống tươi trẻ, đẹp đẽ nhất của mình để dâng cho cuộc đời chung. Ông muốn góp một phần nhỏ bé vào mùa xuân lớn lao của dân tộc. - Nghệ thuật đảo ngữ từ ‘‘lặng lẽ’’ được đặt lên đầu câu để nhân mạnh cách thức của sự dâng hiến. Đó là sự dâng hiến âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, phô trương. Giống như cách mà Nguyễn Khoa Điềm đã nói trong « Trường ca mặt đường khát vọng » : “Nhưng em biết không Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm nên Đất Nước” Hay đó là hình ảnh của người thanh niên làm công tác khí tượng thủy văn cao hai nghìn sáu trăm mét trong ‘Lặng lẽ Sa Pa’ của Nguyễn Thành Long. Đặc biệt cụm từ “dâng cho đời” thể hiện rõ thái độ thành kính, trân trọng. - Vậy khi nào ta có thể dâng hiến cho cuộc đời, cho đất nước? Thanh Hải đã trả lời câu hỏi đó rằng: “dù là tuổi hai mươi” hay “khi tóc bạc” ta đều có thể cống hiến hết mình.
- 7 + Hình ảnh hoán dụ “tuổi hai mươi” tượng trưng cho tuổi trẻ, phơi phới sức xuân và “tóc bạc” tượng trưng cho tuổi già, đi qua những thăng trầm của cuộc đời. Vậy là đâu phải đến tuổi lao động ta mới có thể cống hiến mà chỉ cần có tấm lòng, có quyết tâm thì ngay cả khi còn trẻ, còn là những học sinh sinh viên hay khi đã đi qua những thăm trầm cuộc đời, bước sang tuổi xế chiều ta vẫn có thể cống hiến cho đất nước. + Điệp ngữ “dù là” tạo nhịp thơ nhanh, mạnh, thiết tha cho câu thơ ; nhấn mạnh sự cống hiến bền bỉ, mãnh liệt vượt thời gian và không gian, thủy chung, son sắt từ khi đầu còn xanh cho đến lúc sương pha mái tóc. Ước nguyện ấy thật đáng ngợi ca, trân trọng, và suốt cuộc đời Thanh Hải, ông đã sống đúng như ước nguyện của mình. Từ ước nguyện trên, nhà thơ đã hướng người đọc đến một triết lí về lẽ sống ở đời. Đó là mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng. Sống là phải biết cống hiến, phải biết đem cái tôi của riêng mình để hòa vào cái ta rộng lớn. Mỗi người phải đem đến cho cuộc đời chung những gì đẹp đẽ, tinh túy nhất nhưng không làm mất đi bản sắc riêng. => Bằng giọng thơ tự sự, nhỏ nhẹ sâu lắng, ước nguyện hiến dâng của nhà thơ Thanh Hải thật hết sức giản dị và cao đẹp. Khi ông viết những dòng thơ này cũng là lúc ông đang nằm trên giường bệnh. Nếu không phải là con người lạc quan yêu đời, hẳn không thể viết ra những dòng thơ hay đến vậy. Đọc khổ thơ, mỗi độ xuân về ta càng thêm trân trọng nhân cách sống của nhà thơ. 3. Khổ 6 : Lời ca ngợi quê hương, đất nước qua điệu dân ca xứ Huế *Trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời, của dân tộc và của cả chính lòng mình, nhà thơ nguyện cất cao tiếng hát để ca ngợi non sông: Mùa xuân – ta xin hát Câu Nam ai Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế. - Nếu khổ một xôn xao bởi tiếng chim chiền chiện hót vang trời thì khổ thơ cuối bài lại ngân nga làn điệu ‘‘Nam ai Nam bình’’. - Khổ thơ có cách gieo vần, phối âm độc đáo. Ba câu với điệp từ “nước non” và kết thúc bằng các vần bằng liên tiếp: bình, mình, tình như muốn thể hiện chất âm nhạc dân ca nhẹ nhàng, buồn thương man mác của xứ Huế. Những câu Nam ai, Nam bình hòa với tiếng gõ phách tiền rộn ràng, đó chính là cái hồn của âm nhạc dân gian xứ Huế, là âm thanh đất nước muôn đời vẫn trẻ trung, vấn vít, xao xuyến lòng người. Tác giả sống mãi với cuộc đời, với quê hương trong tiếng phách tiền âm vang du dương và lan tỏa ấy.
- 8 - Câu thơ cuối cùng là cảm thức về cội nguồn của nhà thơ ‘đất Huế’ – là nơi chôn rau cắt rốn của nhà thơ, mảnh đất sinh ra và lớn lên của tác giả. Và có lẽ nhà thơ ý thức được rằng, Huế là mảnh đất ông sẽ nằm lại. ->Khổ thơ cuối giống như một lời chào từ biệt của Thanh Hải đối với quê hương đất nước *NGHỆ THUẬT - Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ gần với các làn điệu dân ca miền Trung, âm hưởng nhẹ nhàng, tha thiết. -Xuyên suốt bài thơ là những hình ảnh ẩn dụ tự nhiên, giản dị giàu ý nghĩa biểu tượng, khái quát. - Bài thơ có giọng điệu biến đổi phù hợp với mạch cảm xúc : -Bài thơ cũng là là sự kết hợp của nhiều biện pháp tu từ độc đáo: điệp ngữ, liệt kê, đảo ngữ, so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ giàu sức gợi cảm. *ĐÁNH GIÁ - Bài thơ không chỉ thể hiện nét tài hoa về nghệ thuật mà còn thể hiện phong cách thơ cùng tâm hồn tinh tế, sâu sắc của Thanh Hải, góp phần làm phong phú thêm thơ về mùa xuân của dân tộc. - Bài thơ là tiếng lòng tha thiết yêu mến gắn bó với đất nước, với cuộc đời; thể hiện ước nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một “mùa xuân nho nhỏ" vào mùa xuân lớn của dân tộc. Càng hiểu về hoàn cảnh sáng tác của bài thơ, ta càng cảm phục tinh thần của người nghệ sĩ. Cho đến những giây phút cuối đời, trong cuộc chiến giành giật sự sống và cái chết, với bản năng và thiên chức của người nghệ sĩ, Thanh Hải vẫn không những cống hiến, sáng tạo nghệ thuật và để lại cho chúng ta một tác phẩm tuyệt vời về mùa xuân mãi mãi tươi xanh.



