Đề cương ôn tập Ngữ văn 11 - Chủ đề 9: Lựa chọn và hành động
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập Ngữ văn 11 - Chủ đề 9: Lựa chọn và hành động", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_cuong_on_tap_ngu_van_11_chu_de_9_lua_chon_va_hanh_dong.docx
Nội dung text: Đề cương ôn tập Ngữ văn 11 - Chủ đề 9: Lựa chọn và hành động
- CHỦ ĐỀ 9: LỰA CHỌN VÀ HÀNH ĐỘNG A. Ôn tập tri thức Ngữ văn về văn văn học có nhiều chủ đề I. Chủ đề - Chủ đề được hiểu là các vấn đề cơ bản được nêu ra trong văn bản. Chủ đề thể hiện điều quan tâm cũng như chiểu sâu nhận thức của nhà văn đối với cuộc sống. II. Văn bản văn học có nhiểu chủ đề - Thông thường, văn bản văn học sẽ cùng lúc thể hiện nhiểu chủ đề và các chủ đề này sẽ được phân loại theo các tiêu chí khác nhau. - Xét mức độ biểu hiện đậm nhạt, để xác định chủ đề chính và chủ đề phụ nhiểu khi phụ thuộc vào sự iếp nhận khác nhau của người đọc chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào chủ ý của tác giả. - Xét về tính chất của những điều được biểu hiện, có thể nói đến chủ đề đặc thù dân tộc hay chủ đề phổ quát nhân loại. -> Sự đa dạng về chủ đề khiến văn bản trở nên đa nghĩa, đáp ứng được sự đón đợi của nhiểu loại độc giả khác nhau và mỗi người có thể tìm thấy ở văn bản một điều tâm đắc riêng. B. Hệ thống kiến thức cơ bản về các văn bản đã học. I. Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ 1. Nội dung - Bài thơ thể hiện sự “ngất ngưởng” của Nguyễn Công Trứ gắn với đỉnh cao danh vọng, coi nhẹ công danh phú quý, không vướng bận chuyện thị phi, ung dung tự tại với cuộc sống phong tình nhưng vẫn luôn giữ vẹn đạo nghĩa trung thần. 2. Nghệ thuật - Có sự kết hợp giữa từ ngữ trang trọng và từ ngữ dân dã, hình ảnh cụ thể - Sử dụng hàng loạt biện pháp đối, điệp từ, lặp cấu trúc, điển cố,... - Vần, nhịp vừa tuân thủ thể loại, vừa có sự linh hoạt, sáng tạo. 3. Cách đọc hiểu một tác phẩm hát nói trung đại : 1. Đọc văn bản, nhận diện đặc điểm thể loại hát nói. 2. Tìm hiểu các thông tin về các tác giả, hoàn cảnh ra đời tác phẩm. 3. Đọc kĩ văn bản, dùng liên tưởng, tưởng tượng để hình dung các vấn đề về hiện thực, xã hội, con người ... được tác giả biểu hiện qua ngôn ngữ trong văn bản. 4. Nhận diện bố cục và phân tích văn bản theo bố cục chung của thể hát nói. 5. Từ việc phân tích nội dung hiện thực được phản ánh, phát hiện góc nhìn, thái độ của tác giả, suy nghĩ, cảm nhận tư tưởng, quan niệm của người viết về những vấn đề nhân sinh, xã hội. 6. Liên hệ với bản thân và thực tại để thấy ý nghĩa của thể loại hát nói đối với cuộc sống và con người ngày nay. II. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu 1. Nội dung - Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc bi tráng cho một thời kỳ lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì tổ quốc. 1
- 2. Nghệ thuật - Thể văn biền ngẫu được sử dụng linh hoạt, đa dạng, với nhiều hình thức tổ chức câu văn đạt đến trình độ mẫu mực; - Sự kết hợp nhuần nhuyễn của các bút pháp, thủ pháp và phương thức nghị luận - Sự kết hợp thuần thục giữa ngôn ngữ bác học và bình dân. 3. Cách đọc hiểu một tác phẩm thuộc thể loại văn tế 1. Đọc kĩ văn bản, nắm vững hoàn cảnh ra đời bài văn tế, tìm hiểu nhan đề 2. Xác định bố cục, đối tượng của bài văn tế 3. Dựa vào nội dung các phần tìm hiểu hành trạng, sự nghiệp, công đức của người đã khuất và niềm tiếc thương, ca tụng, ghi nhớ công đức của người tế lễ dành cho người đã khuất. 4. Phân tích vai trò và tác dụng của các yếu tố biểu cảm, cách dùng từ ngữ, hình ảnh ... của tác giả trong văn bản. III. Cộng đồng và cá thể (Trích Thế giới như tôi thấy của Anbe- Axtanh) 1. Nội dung - Văn bản là một bài tiểu luận nêu lên quan điểm về mối quan hệ giữa con người và cộng động. 2. Nghệ thuật - Giọng điệu nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, giàu tính triết lý. - Vận dụng kiến thức của nhiểu lĩnh vực: hội họa, chính trị, kinh tế qua việc đưa những bằng chứng chứng minh. - Luận điểm, lí lẽ rõ ràng, cụ thể, sắc bén, giàu tính thuyết phục người đọc, người nghe. - Ngôn ngữ khách quan, khúc triết 3. Cách đọc hiểu một tác phẩm nghị luận xã hội 1. Đọc kĩ văn bản và xác định luận đề, luận điểm, luận cứ. 2. Nhận diện vấn đề xã hội được đặt ra trong văn bản là hiện tượng đời sống hay một tư tưởng, đạo lí. 3. Dựa vào các luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng trong văn bản để nhận diện mục đích, quan điểm của người viết. 4. Phân tích cách thức lập luận, vai trò và tác dụng củ C. Ôn tập kĩ năng viết văn bản nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật 1. Yêu cầu đối với kiểu bài - Nêu được những thông tin khái quát về tác phẩm nghệ thuật sẽ bàn tới trong bài viết (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, đánh giá của công chúng,..). - Xác định rõ nội dung và hệ thống luận điểm sẽ triển khai: miêu tả chung về tác phẩm bằng ngôn ngữ phù hợp với loại hình nghệ thuật của nó; phân tích tác phẩm trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật; đánh giá tổng quát; gợi ý về cách tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm. - Phối hợp linh hoạt giữa việc trình bày lí lẽ và nêu bằng chứng cụ thể. - Thể hiện được sự rung động trước tác phẩm và sự đồng cảm đối với tác giả. 2. Cấu trúc của bài viết: a. Dàn ý về sức hấp dẫn của một bộ phim, vở kịch, bài hát 2
- - MB: Giới thiệu bộ phim (vở kịch, bài hát) và nêu khái quát điểm đặc sắc. - TB: Nêu các ý cụ thể phân tích bộ phim (vở kịch, bài hát): + Phân tích nội dung, ý nghĩa của bộ phim (vở kịch, bài hát). + Phân tích các điểm đặc sắc về hình thức bộ phim (vở kịch, bài hát). + Nêu các nhận xét của người viết về thành công và hạn chế của bộ phim (vở kịch, bài hát). - KB: Nêu đánh giá khái quát về bộ phim (vở kịch, bài hát): giá trị thời sự, hiệu quả tác động tới người xem, dư luận xã hội về bộ phim (vở kịch, bài hát) đó. b. Dàn ý suy nghĩ về đẹp của một bức tranh hoặc một pho tượng? - MB: Giới thiệu bức tranh hoặc pho tượng mà em cho là có giá trị: bức tượng Nữ thần tự do được đặt ở cảng New York. - Nêu khái quát các đặc điểm đặc sắc của bức tượng. - TB: + Đặc sắc về nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của bức tượng. + Nhận xét về thành công và hạn chế của tác phẩm. - KB: Đánh giá khái quát về tác phẩm: giá trị thời sự, hiệu quả tác động đến người xem, dư luận xã hội, lịch sử phát triển c. Dàn ý phân tích đánh giá một tác phẩm truyện - Mở bài: giới thiệu ngắn gọn về tác giả tác phẩm và ý kiến khái quát của người viết về tác phẩm, chia sẻ người đọc lý do lựa chọn tác phẩm để phân tích đánh giá - Thân bài: tóm tắt nội dung chính của truyện + Phân tích đánh giá về chủ đề của truyện dựa trên dẫn chứng từ tác phẩm + Phân tích đánh giá những nét đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm + Khi phân tích đánh giá cần có những chi tiết tiêu biểu được dẫn ra từ tác phẩm - Kết bài: Tóm lược được các nhận định trong tác phẩm phần thân bài d. Dàn ý phân tích đánh giá một tác phẩm thơ - Mở bài: + Giới thiệu sơ lược về tác giả, hoàn cảnh xuất xứ, đại ý, nội dung chính của đoạn thơ/bài thơ. Dẫn vào đoạn thơ, bài thơ cần phân tích: trích lại bài thơ (nếu ngắn) còn khổ thơ thì phải ghi lại tất cả. - Thân bài: + Khái quát về vị trí trích đoạn hoặc bố cục, mạch cảm xúc chủ đạo của khổ thơ, bài thơ. + Phân tích bài thơ/đoạn thơ: trích thơ rồi lần lượt phân tích những từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, v.v . trong từng câu thơ, giải mã đúng từ ngữ, hình ảnh đó để giúp người đọc cảm thấy được những cái hay, cái đặc sắc về nội dung, nghệ thuật cảu bài thơ. Lưu ý: Nên phân tích từ nghệ thuật đến nội dung, khi phân tích phải dựa vào từ ngữ có trong bài thơ, hoàn cảnh ra đời, phong cách sáng tác của tác giả để tránh suy diễn miên man, không chính xác, cụ thể: - Kết bài: + Khẳng định lại toàn bộ giá trị về nội dung, nghệ thuật của bài thơ. + Liên hệ bản thân và cuộc sống (nếu có). 3. Đề tham khảo: Đề 1. Anh, chị hãy viết bài văn nghị luận về bộ phim “Em của thời niên thiếu” 3
- 1. Mở bài: Giới thiệu bộ phim: “EM CỦA THỜI NIÊN THIẾU” - Bộ phim cho ta những định nghĩa về trưởng thành. 2. Thân bài: a. Luận điểm 1. Nhìn nhận khái quát về bộ phim - Chúng ta mỗi người đều lớn lên theo một cách khác nhau, trải qua theo một cách khác nhau. Ai rồi cũng sẽ có những ngày tháng tươi đẹp nhất của tuổi trẻ, được vô tư vui đùa bên bạn bè, được bố mẹ thầy cô bao bọc yêu thương. Nhưng đồng thời ta cũng có những sai lầm, những vấp ngã, những giây phút đen tối, chơi vơi và cả những khoảnh khắc sụp đổ. Trưởng thành, có lẽ là tất cả những điều ấy. - Better Day – Em của thời niên thiếu mang đến cho ta cái nhìn, cảm xúc chân thực nhất về tuổi 17, về những nỗi đau, nỗi cô đơn và cái giá của sự trưởng thành. Qua Better Day, Trần Niệm và Bắc Sơn đã cùng nhau định nghĩa nên tuổi trẻ, định nghĩa nên trưởng thành. - Em của thời niên thiếu là một bộ phim điện ảnh tình cảm tội phạm tuổi mới lớn Trung Quốc năm 2019 của đạo diễn Tăng Quốc Tường do Châu Đông Vũ và Dịch Dương Thiên Tỉ thủ vai chính. Kịch bản phim được chuyển thể từ tiểu thuyết dành cho giới trẻ nổi tiếng Thời niên thiếu của anh và em của tác giả Cửu Nguyệt Hi. Phim kể về câu chuyện của một cô học sinh bị bắt nạt và một cậu thiếu niên giang hồ đường phố và cách hai người thay đổi cuộc đời nhau, [3] cũng như những ước mơ của họ về tương lai và cách họ bảo vệ người kia theo cách của riêng mình. - Phim khởi chiếu vào ngày 25 tháng 10 năm 2019 tại Trung Quốc và vào ngày 8 tháng 11 năm 2019 tại Mỹ, Vương quốc Anh và Canada. Bộ phim đã trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng ở Trung Quốc cũng như thành công phòng vé với tổng doanh thu trên toàn cầu là 227,3 triệu đô la Mỹ. Phim được chọn làm ứng cử viên đại diện cho Hồng Kông trong hạng mục Phim ngoại ngữ hay nhất tại giải Oscar lần thứ 93, sau đó nhận được đề cử giải Oscar cho phim quốc tế xuất sắc nhất và là đề cử đầu tiên được đạo diễn bởi một người gốc Hồng Kông thay vì một đạo diễn Trung Quốc Đại lục. Luận điểm 2. Phân tích từng khía cạnh của bộ phim - Trưởng thành là tổn thương và cô độc: “Trưởng thành cũng giống như môn nhảy cầu ,cứ nhắm mắt lại, đừng nghĩ gì mà nhảy xuống nước, dù biết dưới đó có sỏi, đá và vỏ sò chúng ta có thể bị đau mà không biết trước, nhưng ai cũng lớn lên theo cách đó cả.” Đó là những khái niệm rất đơn thuần mà Better Day đưa ra cho người xem, một định nghĩa dung dị mà sâu sắc về hành trình trưởng thành đầy khắc nghiệt. Thực tế thì, không phải ai cũng đủ dũng khí để trưởng thành. Bạn đã bao giờ tự hỏi thế nào là trưởng thành? Khi nào thì ta trưởng thành? Nếu trưởng thành được xác định bằng con số tuổi tác thì điều ấy thật là vô nghĩa. Suy cho cùng, bạn chỉ có thể đong đếm sự trưởng thành bằng những trải nghiệm. Xã hội luôn đặt ra những dấu mốc cho sự trưởng thành và trong “Better Day”, đó là kì thi đại học. - Tiểu Niệm và rất nhiều những cô cậu học trò khác lấy kì thi đại học làm dấu mốc cho sự trưởng thành. Ở thời điểm chênh vênh nhất của tuổi trẻ, xã hội bảo bạn rằng bạn chỉ có thể được công nhận khi đỗ đại học và thế là bạn lao đầu vào học dù nhiều người không thể tưởng tượng nổi sau khi đỗ đại học rồi sẽ thế nào. Đôi khi chúng ta học tập và ôn thi chỉ để bản thân có mục đích rõ ràng ở thời điểm đó chứ không hẳn vì đó là điều mà ta 4
- mong muốn. Chúng ta đều đáng thương bởi ta phải trưởng thành theo cách mà xã hội mong muốn – một hành trình trưởng thành đúng nghĩa, chuẩn mực nhưng đôi khi lại vô tình đem lại cho ta tổn thương và cô độc. Trưởng thành là sai lầm và vấp ngã - Chính vì cô đơn và tổn thương nên người trẻ thường rất dễ mắc phải sai lầm. Chúng ta có quá ít sự lựa chọn để biết rằng mình có bao nhiêu con đường và con đường nào là tốt nhất cho mình. Chúng ta còn quá trẻ để biết nghĩ lớn hơn, xa hơn, rộng hơn, sâu hơn và đôi khi, chính vì thế mà ta trở nên nông nổi và vấp ngã. Từ “khắc nghiệt” để nói về quá trình trưởng thành của các nhân vật trong phim bởi họ đều sai lầm và vấp ngã nhiều lần để có thể tìm về bản ngã của chính mình và họ đều phải trả một cái giá rất đắt cho những việc mình đã quyết định sai. “Better Day” không phải một bộ phim thanh xuân vườn trường vui tươi, trong sáng mà phim phản ánh mặt u tối, buồn bã, nặng nề và đầy ám ảnh của những góc khuất học đường mà thật lòng mình mong càng ít người đồng cảm càng tốt. Song song với kì thi đại học, phim đặt ra một vấn đề thực tế nhức nhối trong xã hội hiện nay: bạo lực học đường.“Một là bị bắt nạt. Hai là đi bắt nạt người khác”. Khái niệm về tình bạn là một điều vô cùng xa xỉ trong phim vì những mối quan hệ chỉ được xây dựng qua nỗi sợ hãi và sự phục tùng. Dường như những đứa trẻ bù đắp sự tổn thương và thiếu thốn của chúng bằng cách trút giận lên những đứa yếu thế hơn. Trong lớp học, trước những trò đùa nghịch quá đáng, ta thấy hai thái độ: hùa theo và tiếp tục buông lời trêu chọc hoặc lén lút nhìn bằng ánh mắt ái ngại rồi lại cúi gằm mặt xuống. Chúng ta trở thành những kẻ xấu hoặc trở thành những kẻ im lặng hèn nhát. Thế giới trở nên xấu xí hơn không chỉ bởi những kẻ ác mà còn bởi sự im lặng của những người tốt. - Trưởng thành là tìm thấy một người cũng mình trải qua khó khăn. May mắn của Trần Niệm và Bắc Sơn là họ tìm thấy nhau giữa muôn vàn ngã rẽ phức tạp, đắng cay của tuổi trưởng thành. Nhìn bề ngoài, đó là mối quan hệ đầy khác biệt giữa một học sinh giỏi và một thanh niên lưu manh, không được giáo dục tử tế. Nếu ta lấy thi đỗ đại học làm dấu mốc trưởng thành thì Lưu Bắc Sơn thậm chí còn không có cơ hội để chạm tay đến hai chữ danh giá ấy. Họ giao nhau về sự tổn thương của những đứa trẻ đang loay hoay để lớn, giống như câu nói mà Bắc Sơn đọc được trong vở Tiểu Niệm: “We are all in the gutter, but some of us are looking at the stars” - Chúng ta đều là những kẻ sống trong tận cùng cống rãnh nhưng vài người trong số chúng ta vẫn đang hướng tới những vì sao. Khi đơn độc, họ cúi gằm mặt trong nhục nhã và cay đắng, nỗ lực vươn lên yếu ớt nhưng khi tìm thấy nhau, họ đã có niềm tin và yêu thương để ngẩng lên nhìn những vì sao trên bầu trời rộng lớn. Có nhau, họ có dũng khí để hi vọng. “Mình chỉ là một thằng không tiền, không não, không tương lai nhưng khi mình thích một người, mình chỉ muốn người đó được hạnh phúc nhất.”. “Vậy nói trước rồi nhé. Cậu bảo vệ thế giới, tớ bảo vệ cậu” 3. Kết bài: Đánh giá chung về tác phẩm nghệ thuật “Em của thời niên thiếu”, mình rất thích tựa Việt này của phim. Cái tên gợi nên bao hoài niệm về những ngày đã qua, những ngày vụng dại và ngây ngô nhất nhưng có lẽ lại là những ngày ta sống trọn vẹn nhất với cảm xúc của mình. Còn nhan đề gốc Better Day khiến mình tự hỏi rằng những ngày tốt đẹp hơn ở đây là những ngày nào? Là những ngày tháng trưởng thành trong câm lặng và buồn bã hay những ngày thiếu niên sôi nổi 5
- mà lại đầy rẫy những sai lầm? Dẫu tuổi trẻ của mỗi người mỗi khác nhưng chúng ta đều mắc phải sai lầm và bị tổn thương, đều từng vấp ngã. Đề 2. Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận về giá trị nội dung, nghệ thuật bài thơ “Mạch nguồn đất mẹ” MẠCH NGUỒN ĐẤT MẸ Giếng làng có tự ngàn xưa Bậc đá mòn lòa xòa bụi cỏ Cụm bèo ong dập dềnh trước gió Mắt giêng trong in bóng mây trời Giếng giữ trong lòng lịch sử quê tôi Người phụ nữ chân trần gánh nước Đòn gánh tre oằn trong cơ cực Để mạch nguồn thổn thức dưới lòng khơi Giếng bao đời vẫn thế giếng ơi Sau vòm đa xanh là khoảng trời lặng lẽ Con bống xưa giỡn trăng vàng quẫy nhẹ Những vòng trăng theo sóng nước loang xa Tôi trở về bên giếng nước gốc đa Cầm chiếc gàu múc lại thời thơ bé Nước mát ngọt từ mạch nguồn đất mẹ Tôi uống vào lòng cả mảng hồn quê. 2017, Nguyễn Thị Thu Hà 1. Mở bài - Dẫn dắt. Bàn về thiên chức của thơ ca, Nguyễn Đăng Mạnh từng khẳng định “Thơ ra đời cốt để nói những điều sâu kín, mơ hồ nhất của tâm hồn con người”. Với trái tim nhạy cảm, tâm hồn tinh tế, lắng nghe những rung động của cuộc đời, nhà thơ đã diễn tả những cung bậc sắc thái mong manh trong thế giới nội tâm con người cũng như vẻ đẹp của cuộc đời. - Giới thiệu tên tác giả, tác phẩm. Qua bài thơ “Mạch nguồn đất mẹ’’ của Nguyễn Thị Thu Hà, ta đã thấy được tình yêu quê hương đồng thời cũng thể được nỗi nhớ quê hương da diết của tác giả. 2. Thân bài 2.1. Khái quát chung - Dẫn dắt. Ai đó đã từng nói: “ Thơ là âm nhạc của tâm hồn, nhất là những tâm hồn cao cả, đa cảm”, qua thi phẩm ta có thể cảm nhận được tâm hồn đầy đẹp đẽ thanh cao của Nguyễn Thị Thu Hà. - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. Nguyễn Thị Thu Hà là một trong những nhà văn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam. Với phong cách thơ nhẹ nhàng du dương, thấm đượm tình yêu quê hương làng xóm thì “Mạch nguồn đất mẹ”- thi phẩm đã là nên tên tuổi của 6
- bà trong lòng độc giả. Thi phẩm đã thể hiện được tình yêu nỗi nhớ của tác giả dành cho quê hương, xóm làng. 2.2. Phân tích a. Khổ thơ đầu - Dẫn dắt. “Thơ cần có hình co người ta thấy, có ý cho người ta nghĩ và có tình để rung động trái tim”. - Phân tích. Nội dung của thi phẩm được thể hiện bằng hình ảnh “giếng” đầy quen thuộc của làng quê Việt Nam: “Giếng làng có tự ngàn xưa Bậc đá mòn lòa xòa bụi cỏ Cụm bèo ong dập dềnh trước gió Mắt giếng trong in bóng mây trời’’ + Khổ thơ đầu mở đầu bằng hình ảnh “giếng”, đây là một hình ảnh gắn liền với cuộc sống làng quê lưu giữ những kỉ niệm khi ta thơ bé, là nơi chứng kiến ta trưởng thành. Ta cũng từng bắt gặp hình ảnh của chiếc “giếng” trong tác phẩm “Đồng Chí” : “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” + Bằng việc sử dụng hình ảnh “bậc đá” kết hợp với tính từ “mòn” cùng phép đảo ngữ “lòa xòa bụi cỏ”, Nguyễn Thị Thu Hà đã vẽ ra trước mắt người đọc hình ảnh của chiếc giếng cũ kĩ có từ “ngàn xưa” cùng với những bậc đá mòn với những nhúm cỏ mọc chen chúc nhau. Qua đó ta như thấy được sự gắn bó của chiếc giếng đối với quê hương của tác giả. Nó như nhân chứng, chứng kiến sự thay đổi của vạn vật, từ ngày lập làng đến tận bây giờ. + Những câu thơ tiếp theo tác giả lại viết: “Cụm bèo ong dập dềnh trước gió Mắt giếng trong in bóng mây trời” Hình ảnh “cụm bèo ong” kết hợp với từ láy “dập dềnh” , tác giả vô cùng tài tình khi sử dụng cái động diễn tả cái tĩnh, từ đó đã diễn tả sự chuyển động, sóng sánh của nước khi có cơn gió nhẹ nhàng thổi ngang qua. Qua đó, ta như thấy được sự yên bình thanh thản của xóm làng. Hình ảnh “mắt giếng trong” là một hình ảnh thơ vô cùng độc đáo . Ta có thể hiểu “mắt giếng” ở đây có thể là hình ảnh của chiếc giếng nhỏ được nhìn từ trên cao xuống, in bóng mây trắng, trời xanh. Bằng việc sử dụng hình ảnh thơ đầy quen thuộc, gần gũi “giếng, bậc đá, cụm bèo ong” cùng các tính “trong, mòn” kết hợp với từ láy “dập dềnh” cùng các biện pháp nghệ thuật độc đáo, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc khung cảnh làng quê bình dị, yên ả, gần gũi và đầy thân thuộc. b. Khổ thơ thứ 2 - Dẫn dắt. Shelly từng nói: “Thơ ca làm cho tất cả những gì tốt đẹp nhất trên đời thành bất tử”. - Phân tích. Và hình ảnh “giếng” trong thi phẩm của Nguyễn Thị Thu Hà đã đi vào lịch sử: “Giếng giữ trong lòng lịch sử quê tôi" + Câu thơ mở đầu. Khổ thơ với vỏn vẹn bốn câu đã thành công khắc họa được sự gắn bó, liên quan đầy mật thiết của giếng đối với quê hương của tác giả. Nó như một nhân chứng sống của lịch sử, xóm làng. Qua cụm từ “giữ trong lòng”, tác giả như nhấn mạnh về sự khăng khít dài lâu của chiếc giếng. Trong lòng lịch sử của thời gian, giếng đã chứng kiến 7
- sự ra đi mất mát, chứng kiến sự khó khăn gian khổ, sự chia li hội họp. Cũng chính vì thế mà tác giả đã dành một khổ thơ riêng để nhấn mạnh tấm quan trọng và mối quan hẹ mật thiết của giếng đối với đời sống của người dân. + Ba câu tiếp: Hình ảnh người phụ nữ chân trần được tô đậm “Người phụ nữ chân trần gánh nước Đòn gánh tre quằn trong cơ cực Để mạch nguồn thổn thức dưới lòng khơi“ Thành công của tác giả khi sử dụng hình ảnh “người phụ nữ chân trần” đang phải gánh nước kết hợp với hình ảnh “đòn gánh tre” cùng động từ “quằn”, đã cho ta thấy được sự đói khổ thiếu thốn. Người phụ nữ bước từng bước nặng nhọc, gánh từng đòn nước nặng để nuôi sống gia đình, nuôi sống các con của mình. Hình ảnh “đòn gánh tre quằn trong cơ cực ”như thể hiện ý chí, nghị lực mãnh liệt, quằn lên để chống lại sự đói khổ thiếu thốn. Chính điều đó khiến cho: “Để mạch nguồn thổn thức dưới lòng khơi” Bằng việc sử dụng hình ảnh “mạch nguồn” kết hợp với từ láy “thổn thức”- tâm trạng xúc động bị đè nén, tác giả đã cho ta thấy được tình cảm thái độ của mạch nguồn trước khung cảnh đói khổ. Nó buồn bã, thương xót cho số phận đầy khó khăn, nghèo túng của dân làng để rồi phải “thổn thức dưới lòng khơi”.Khổ thơ đã vô cùng thành công khi tác giả sử dụng những hình chân thực như: “người phụ nữ chân trần”, “đòn gánh tre” kết hợp với động “quằn” và phép nhân hóa “ mạch nguồn thổn thức” đã nhấn mạnh sự nghèo khó cơ cực của những người phụ nữ nói riêng và dân làng nói chung, đồng thời cũng thể hiện sự thương xót, đồng cảm dành cho những số phận nghèo túng, éo le của tác giả. c. Khổ thơ thứ ba. - Dẫn dắt. Hình ảnh giếng làng trở lại rõ nét hơn “Giếng bao đời vẫn thế giếng ơi Sau vòm đa xanh là khoảng trời lặng lẽ Con bống xưa giỡn trang vàng quẫy nhẹ Những vầng trăng theo sóng nước loang xa - Phân tích. + Mở đầu khổ thơ ta lại lần nữa bắt gặp hình ảnh “giếng” được lặp lại hai lần trong một câu thơ kết hợp với thán từ “ơi” đã thể hiện sự thân quen, gần gũi của tác giả đối với chiếc giếng quê hương. Sau bao năm xa quê hương, cho đến khi trở về chiếc giếng xưa vẫn còn đây, vẫn là bóng hình quen thuộc chất chứa bao kỉ niệm. + Ở câu thơ thứ hai ta đã bắt gặp hình ảnh “vòm đa xanh”. Đi đôi với “giếng” thì ảnh “cây đa” cũng là hình ảnh vo cùng gần gũi đối với làng quê Việt Nam. Cây đa cũng chính là linh hồn nhân chứng sống qua năm tháng, ghi lại từng nhịp, từng khắc của cuộc sống, của quê hương. Hình ảnh “khoảng trời lặng lẽ” ở đây không chỉ là khung cảnh của miền quê yên ả mà còn gợi ra khoảng lặng trong tâm hồn của tác giả. Tác giả lắng tâm mình lại, tránh xa khỏi những bề bộn của cuộc sống, những nỗi lo âu cơm áo gạo tiền để lại một lần nữa trở về những ngày thơ bé, được bà, được mẹ kể cho nghe những câu chuyện cổ tích với chú “cá bống” nhỏ. 8
- + Với hình ảnh “chú cá bống” kết hợp với các động từ “giỡn, quẫy” đã gợi ra khung cảnh chú cá nhỏ hồn nhiên tung tăng quẫy nước, làm cho bóng trăng loang thành những vòng xa. d. Khổ thơ cuối - Khép lại bài thơ là khung cảnh ngày tác giả trở lại quê hương: “Tôi trở về bên giếng nước gốc đa Cầm chiếc gàu múc lại thời thơ bé Nước mất ngọt từ mạch nguồn đất mẹ Tôi uống vào cả mảng hồn quê” - Phân tích. + Bằng việc sử dụng đại từ nhân xưng “tôi” cùng với đông từ “trở về” và các hình ảnh thơ “giếng nước, gốc đa” đã cho ta thấy được sự trở về của tác giả. Sau bao năm cách xa quê hương, xóm làng thì giờ đây tôi đã trở về, hòa mình với giếng nước gốc đa thân thương kỉ niệm. Giếng nước, gốc đa là nơi lưu giữ quá trình trưởng thành của “tôi” nên khi “tôi” trở về bên chúng là trở về với tuổi thơ của bản thân mình- một tuổi thơ vất vả nhưng hạnh phúc, ý nghĩa: “Cầm lên chiếc gàu múc lại thời thơ bé Nước mát ngọt từ mạch nguồn đất mẹ” + “Tôi” trở lại quê hương, trở lại nơi chôn rau cắt rốn của mình, trở lại bên gốc đa giếng nước, đắm chìm vào kỉ niệm xưa. Vì thế mà “tôi” đã “múc lại thời thơ bé” của mình, thời mà mẹ phải gánh nước mưu sinh, thời mà bản thân vô ưu vô lo chạy nhảy trên những cánh đồng. Chính vì thế mà “tôi” cảm thấy “ngọt”. Vị ngọt ở đây không chỉ là vị ngọt của nước giếng mà đó còn là vị ngọt của tâm hồn khi được trử về quê hương, xóm làng sống lại những ngày thơ bé. Câu thơ cuối như lời tâm tình thủ thỉ: “Tôi uống vào lòng cả mảng hồn quê” “Mảng hồn quê” ở đây có nghĩa là những mảng tâm hồn của quê hương nơi chứa đựng kỉ niệm tuổi thơ đầy thanh bình yên ả. Chính vị ngọt của tâm hồn, vị ngọt của quê hương đã khiến cho tác giả “uống vào lòng cả mảng hồn quê”. e. Nghệ thuật thể hiện - Dẫn dắt. Quả thực “bài thơ hay là bữa tiệc của ngôn từ”. - Đặc sắc về nghệ thuật. Bằng việc sử dụng thể thơ tự do tạo tính nhạc cho cả bài thơ; ngôn ngữ thơ bình dị, thân thuộc; giọng điệu nhẹ nhàng tha thiết chất chứa tình cảm của tác giả “giếng bao đời vẫn thế giếng ơi”; kết hợp với các biện pháp nghệ thuật độc đáo: nhân hóa (“mắt giếng trong in bóng mây trời”), điệp từ,.. cùng các từ láy: “dập dềnh, thổn thức”; động từ:“quằn, trở về” cùng các hình ảnh thơ vô cùng chân thực, gần gũi: “giếng, gốc đa, .” đã góp phần thể hiện tình yêu hương đất nước, nỗi nhớ da diết của tác giả, đồng thời ta cũng cảm nhận được sự tài tình của tác giả trong từng câu thơ, bởi cái tài vì cái tâm mà bay lên, cái tâm vì cái tài mà tỏa sáng. 2.3. Đánh giá - Dẫn dắt. Nghệ thuật là lĩnh vực dộc đáo đòi hỏi người viết phải có phong cách nổi bật tức là phải có nét gì đó, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình”. - Khẳng định giá trị của bài thơ và tài năng sáng tác của nhà thơ. Bằng việc sử dụng thể thơ tự do, ngôn ngữ thơ giàu tình cảm, hình ảnh thơ thân quen, gần gũi, cùng các biện 9
- pháp nghệ thuật độc đáo đã thể hiện được nỗi nhớ quê hương cùng tình yêu quê hương, làm xóm, đồng thời cũng thể hiện được tài năng sáng tác độc đáo, thu hút độc giả của Nguyễn Thị Thu Hà. 3. Kết bài Chế Lan Viên từng khẳng định: “Cái kết tinh của văn thơ là muối bể/ Muối lắng ở ô nề, thơ đọng ở bể sâu”. Một thi phẩm chân chính luôn đọng lại những gì tốt đẹp nhất trong lòng đọc giả và “Mạch ngồn đất mẹ” là một tác phẩm như thế. Qua bài thơ, độc giả không khỏi xao xuyến trước khung cảnh làng quê bình dị và ngưỡng mộ tình yêu quê hương đất nước của bà. D. LUYỆN ĐỀ TỔNG HỢP I. Đề luyện đọc hiểu 1. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THUỘC THỂ LOẠI HÁT NÓI ĐỀ LUYỆN 01 Đọc văn bản sau: Đi không, há lẽ trở về không ? Cái nợ cầm thư phải trả xong !! Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt. Trót đem thân thế hẹn tang bồng. Đi không, há lẽ trở về không ? Cái nợ cầm thư phải trả xong !! Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông. Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông. Trong cuộc trần ai, ai dễ biết ? Rồi ra mới rõ mặt anh hùng. Sống ở đời ai, ai cũng biết ? Rồi ra mới rõ mặt anh hùng. Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông. Sống ở đời ai, ai cũng biết ? Rồi ra mới rõ mặt anh hùng. Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. Câu 2. Căn cứ vào nội dung bài thơ, xác định hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Câu 3. Nêu hiệu quả của phép đối sử dụng trong hai câu thơ Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt 10
- Dở đem thân thế hẹn tang bồng Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về quan niệm chí làm trai của Nguyễn Công Trứ qua hai câu thơ: Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông Câu 5. Chỉ ra điểm khác nhau giữa tư tưởng về công danh của Nguyễn Công Trứ trong bài thơ với tư tưởng của Cao Bá Quát qua những dòng thơ: Xưa nay phường danh lợi Tất tả trên đường đời Đầu gió hơi men thơm quán rượu Người say vô số, tỉnh bao người - Bài ca ngắn đi trên bãi cát- GỢI Ý Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm Câu 2. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Khi Nguyễn Công Trứ đã trải qua con đường thi cử đầy gian truân và lận đận. Và giờ đây, Nguyễn Công Trứ lại tiếp tục con đường đi thi để trả nợ công danh và khi. Câu 3. Hiệu quả của nghệ thuật đối trong hai câu thơ: Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt Dở đem thân thế hẹn tang bồng - Nghệ thuật đối trong hai câu thơ là: Đối giữa “rắp mượn” với “dở đem”; giữa “điền viên vui tuế nguyệt” với “thân thế hẹn tang bồng” - Hiệu quả của nghệ thuật đối: + Nhấn mạnh sự đối lập giữa niềm vui thú trong cảnh an nhàn nơi vườn quê với những thú vui trăng sao với việc buộc phải khẳng định được chí làm trai, sức trẻ nhiệt huyết đầy ngạo nghễ đầy khí phách giữa cuộc đời. + Thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình vẫn luôn là niềm vui, niềm lạc quan tin tưởng vào tài năng, cốt cách của chính mình. + Tạo sự cân đối, nhịp nhàng; góp phần thể hiện nhịp điệu, giọng điệu cho hai câu thơ. Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về quan niệm chí làm trai của Nguyễn Công Trứ qua hai câu thơ: Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông - Hai câu thơ đã thể hiện quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ. “Tiếng” là chỉ thân phận nam nhi trong trời đất, sinh ra đã là kẻ nam nhi. “Danh” là sự ghi nhận tên tuổi, tài năng trên bia đá bảng vàng, để lại tiếng thơm muôn đời. - Quan niệm về chí làm trai của Nguyễn Công Trứ thể hiện qua hai câu thơ là: Khi đã sinh ra là kẻ nam nhi trong cuộc đời thì phải ý thức được trách nhiệm, bổn phận của mình giữa đất trời, cuộc đời và phải bằng tài năng, cốt cách của bản thân để đóng góp cho cuộc đời để ghi lại tên tuổi của mình trên bia đá, bảng vàng và lưu danh tên tuổi muôn đời. Câu 5. Điểm khác nhau giữa tư tưởng công danh của Nguyễn Công Trứ với tư tưởng của Cao Bá Quát - Tư tưởng công danh của Nguyễn Công Trứ là: 11
- + Nguyễn Công Trứ coi “danh” – sự để lại tên tuổi, tiếng thơm muôn đời cũng chính là “nợ” phải trả khi sinh ra là kẻ nam nhi trong cuộc đời. + Nguyễn Công Trứ quan niệm đỗ đạt làm quan cũng chính là thực hiện cái danh và cái danh đó, sự đỗ đạt đó phải để giúp dân, giúp nước. + Nguyễn Công Trứ cũng quan niệm khi đã dấn thân vào con đường công danh thì phải khao khát theo đuổi. - Tư tưởng của Cao Bá Quát qua những dòng thơ: + Cao Bá Quát coi “công danh” như thứ men rượu dễ làm con người say. + Nhà thơ cũng cho rằng: công danh gắn liền với sự ích kỉ, vụ lợi, toan tính + Cao Bá Quát cũng khẳng định: Danh phải gắn với thực để thay đổi thời đại. 2. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THUỘC THỂ LOẠI VĂN TẾ ĐỀ LUYỆN 01 Đọc đoạn trích sau: ...Cũng có kẻ nhỡ nhàng một kiếp, Liều tuổi xanh buôn nguyệt bán hoa, Ngẩn ngơ khi trở về già, Đâu chồng con tá biết là cậy ai? Sống đã chịu một đời phiền não Thác lại nhờ hớp cháo lá đa, Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Cũng có kẻ nằm cầu gối đất, Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi, Thương thay cũng một kiếp người, Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan! Cũng có kẻ mắc oan tù rạc Gửi mình vào chiếu rách một manh. Nắm xương chôn rấp góc thành, Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi? Kìa những đứa tiểu nhi tấm bé, Lỗi giờ sinh lìa mẹ lìa cha. Lấy ai bồng bế vào ra, U ơ tiếng khóc thiết tha nỗi lòng... (Trích Văn tế thập loại chúng sinh – Nguyễn Du) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Xác định các phương thức biểu đạt được sử dụng đoạn trích. Câu 2. Đối tượng chiêu hồn trong đoạn trích trên là những ai? Họ là những người có số phận như thế nào? Câu 3. Nêu hiệu quả của các câu hỏi tu từ xuất hiện trong đoạn trích trên. Câu 4. Theo em, vì sao nhà thơ Nguyễn Du lại dành nhiều tình yêu thương cho 12
- “thập loại chúng sinh”? Câu 5. Nhận xét về tình cảm, thái độ của nhà thơ với những con người được nhắc đên trong đoạn trích. GỢI Ý Câu 1. Các phương thức biểu đạt xuất hiện trong đoạn trích là: Tự sự, biểu cảm Câu 2. - Đối tượng chiêu hồn trong đoạn trích trên là: Những người đàn bà, những kẻ hành khất, người mắc tù oan, những đứa trẻ chết yểu. - Họ là những người có số phận bất hạnh, đáng thương, là phận con ong cái kiến bị xã hội vùi dập, sống trong đau khổ, chết trong oan ức. Câu 3. - Những câu hỏi tu từ trong đoạn trích trên: Đâu chồng con tá biết là cậy ai? Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? Kiếp nào cởi được oan tình ấy đi? - Tác dụng: + Thể hiện nỗi niềm trăn trở, băn khoăn, xót thương, đớn đau của tác giả trước số phận bất hạnh, khổ đau của những con người nhỏ bé, nhất là của những người phụ nữ. + Đó không chỉ là nnhững câu hỏi không có lời đáp về nỗi đau khổ của nhân sinh mà ẩn chứa trong những câu hỏi đó còn là tiếng nói đầy căm phẫn đối với chế độ xã hội phong kiến đầy bất công ngang trái đã áp bức, đầy đọa con người. + Tạo nên giọng điệu buồn thương, da diết cho lời thơ. Câu 4. Nhà thơ Nguyễn Du dành nhiều tình yêu thương cho “thập loại chúng sinh”, vì: - Xuất phát từ hiện thực cuộc sống: Xã hội phong kiến đầy những bất công ngang trái. Cuộc sống của con người vô cùng khổ cực. Họ là những con người bất hạnh, là nạn nhân của xã hội bất công; - Xuất phát từ con người và cuộc đời của Nguyễn Du: + Nguyễn Du là người có tấm lòng nhân ái, thương người; có trái tim biết đồng cảm, yêu thương. - Nguyễn Du cũng đã từng trải nghiệm 15 năm gió bụi đói, rét.. nên ông thấu hiểu cho nỗi đau của “thập loại chúng sinh”. Câu 5. - Tình cảm, thái độ của nhà thơ với những con người được nhắc đến trong đoạn trích: Niềm cảm thông sâu sắc, nỗi xót xa, thương cảm cho cuộc đời bất hạnh của họ. - Biểu hiện: + Hiểu được phận đàn bà nhiều truân chuyên, nhà thơ buông lời than đầy chua xót “Đau đớn thay phận đàn bà”; + Hiểu được cuộc sống nhục nhằn đói rét của những kẻ hành khất, nhà thơ cảm thán: “Thương thay cũng một kiếp người”; + Nguyễn Du như đau với nỗi đau của những kẻ tù tội, chết oan, khóc với tiếng khóc của những đứa trẻ vừa sinh ra đã phải lìa mẹ lìa cha.. 13
- 3. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN THUỘC THỂ LOẠI NGHỊ LUẬN XÃ HỘI ĐỀ LUYỆN 01 Đọc đoạn trích: Cách mạng Công nghiệp 4.0 là gì ? - Là cái mới thay cái cũ. - Là Công ty mới thay thế các Công ty cũ. Đại học mới thay thế đại học cũ. - Mỗi cuộc cách mạng sẽ tạo cơ hội chỉ cho một vài nước bứt phá lên thành nước công nghiệp phát triển. Tạo cơ hội cho một số đại học bứt phá lên thành đại học hàng đầu. Cách mạng 4.0 đột phá về việc học: Chung qui chỉ có một chữ là LÀM NGƯỢC. Cách mạng 4.0 mở ra một cơ hội về sự làm ngược nhưng mang lại kết quả bất ngờ... Đi sau, nhưng làm khác người đi trước, các công cụ 4.0 chủ yếu hỗ trợ cho sự làm khác, làm ngược, bằng cách này chúng ta sẽ đi trước một cách vượt trội các nước đi trước chúng ta. 4.0 đi liền với từ Distructive, tức là phá huỷ, đột phá. Gọi là sự sáng tạo mang tính phá huỷ. Người mà có quá nhiều quá khứ hoành tráng, có quá nhiều hạ tầng 1.0, 2.0, 3.0 sẽ không có đủ can đảm phá huỷ, chỉ có những ai đang không có gì hay có rất ít thứ trong tay. Chúng ta đang có mọi thứ để thắng vì chúng ta không có gì trong tay, không có gì để mất. - Trước đây: Học trước rồi làm sau. Bây giờ: Làm trước học sau; trải nghiệm trước học sau thì vào hơn. Đại học cần cho các em làm nhiều hơn, làm trước khi học. - Trước đây: Không biết thì hỏi thầy, không biết thì đi học. Bây giờ: Biết thì hãy hỏi; tự học trước, biết 78-80-90% rồi thì mới hỏi thầy. Học rồi mới đi học. -Trước đây: Học sách giáo khoa, cái đã có trước đây hàng chục, hàng trăm năm. Bây giờ: Học cái chưa có trong sách giáo khoa, thí dụ CN 4.0: Trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu, Cloud, Hệ thống thực-ảo (“Cách mạng Công nghiệp 4.0”, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, Bộ trưởng Bộ TT và TT Việt Nam, 26/02/2018) Thực hiện các yêu cầu sau: Câu 1. Chỉ ra sự đột phá về việc học mà cuộc Cách mạng 4.0 đã tạo ra. Câu 2. Vì sao tác giả lại cho rằng:“Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 là sự sáng tạo mang tính phá hủy”? Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về quan điểm “Trước đây: Học trước rồi làm sau. Bây giờ: Làm trước học sau; trải nghiệm trước học sau thì vào hơn” của tác giả? Câu 4. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến: “Biết thì hãy hỏi; tự học trước, biết 78-80-90% rồi thì mới hỏi thầy.” của tác giả không? Vì sao? Câu 5. Câu nói “Cách mạng 4.0 đột phá về việc học: Chung qui chỉ có một chữ là LÀM NGƯỢC” có ý nghĩa như thế nào đối với việc học của thế hệ trẻ ngày nay? GỢI Ý Câu 1. Sự đột phá về việc học mà cuộc Cách mạng 4.0 tạo ra là: làm ngược Câu 2. Tác giả lại cho rằng:“Cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 là sự sáng tạo mang tính phá hủy” bởi: - Các công cụ 4.0 đã hỗ trợ cho các cách làm khác, làm ngược lại những gì đã có từ trước để từ đó sáng tạo, vượt trội lên. 14
- - Cuộc Cách mạng 4.0 có thể vượt lên trên những hạ tầng trước đó để tạo nên những cái mới. Câu 3. Quan điểm “Trước đây: Học trước rồi làm sau. Bây giờ: Làm trước học sau; trải nghiệm trước học sau thì vào hơn”: - “Trước đây, bây giờ” chỉ hai thời điểm của quá khứ và hiện tại. “Học” là quá trình lĩnh hội kiến thức, “làm” là quá trình thực hành, biến lý thuyết thành kĩ năng, “trải nghiệm” là quá trình trực tiếp khám phá, tiếp nhận, lĩnh hội cái mới. - Quan điểm trên được hiểu là: Cách học trước kia là tìm hiểu lý thuyết trước rồi sau đó mới làm. Cách học ngày nay là phải thực hành trước rồi mới rút ra lý thuyết. Và khi tự mình làm, trải nghiệm thì sẽ học nhanh hơn. - Ý kiến đã chỉ ra sự khác biệt giữa cách học ngày xưa và cách học trong thời đại Cách mạng Công nghiệp 4.0 ngày nay. Câu 4. Có đồng tình với ý kiến: “Biết thì hãy hỏi; tự học trước, biết 78-80-90% rồi thì mới hỏi thầy.” của tác giả không? Vì sao? - Bày tỏ quan điểm của cá nhân: Đồng tình/ Không đồng tình/ Đồng tình một nửa - Nếu đồng tình: lí giải theo hướng chỉ ra ưu điểm của việc tự học, tự nghiên cứu. + Bởi khi chúng ta biết về lĩnh vực chúng ta đang tìm hiểu, chúng ta sẽ biết đặt ra những câu hỏi trọng tâm để giúp chúng ta hiểu sâu sắc vấn đề, đồng thời có thể tìm thấy những vấn đề mới, hướng giải quyết mới từ cái đã có. + Khi tự học trước, chúng ta sẽ rèn luyện được tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập. Từ đó, sẽ giúp chúng ta hình thành tính cách chủ động, tích cực trong cuộc sống. - Nếu không đồng tình: chỉ ra những khó khăn của việc tự học, tự nghiên cứu trước khi hỏi thầy. + Bởi quá trình tự học, tự nghiên cứu sẽ mất nhiều thời gian, sẽ gây khó khăn trong quá trình xác định vấn đề trọng tâm, đôi khi còn đưa chúng ta đến thất bại bởi không hiểu rõ được bản chất vấn đề + Quá trình tự học sẽ dễ khiến chúng ta đánh mất niềm hứng thú trong học tập, việc học sẽ trở nên nhàm chán và sẽ khiến chúng ta dễ rơi vào cảm giác thiếu tự tin về bản thân. - Nếu đồng tình một nửa: kết hợp hai cách lí giải trên Câu 5. Câu nói “Cách mạng 4.0 đột phá về việc học: Chung qui chỉ có một chữ là LÀM NGƯỢC” có ý nghĩa đối với việc học của thế hệ trẻ ngày nay - Câu nói đã khẳng định: Cách mạng 4.0 đã tạo nên những bước chuyển biến mới, mạnh mẽ trong quá trình học tập, đó là tạo ra quá trình học ngược, làm ngược. - Câu nói có ý nghĩa với việc học của thế hệ trẻ ngày nay: ++ Nhận thức được cần phải có sự thay đổi trong việc học tập khi xã hội bước vào Cách mạng 4.0. Cần có đột phá trong tư duy: trước tư duy một chiều, nay tư duy phản biện; trong phương pháp cần có đột phá trong động cơ, mục đích học. ++ Có thêm quyết tâm để làm mới quá trình học tập, để tìm kiếm năng lực tiềm ẩn trong bản thân, để bắt kịp thời đại và làm chủ cuộc Cách mạng 4.0... ++ Đặt ra nhiệm vụ của thế hệ trẻ cần có phương pháp học tập chủ động, tích cực hơn. ĐỀ LUYỆN 02 Đọc đoạn trích: 15
- (1) “Cái quý giá nhất trên đời mà mỗi người có thể góp phần mang lại cho chính mình và cho người khác đó là “năng lực tạo ra hạnh phúc”, bao gồm năng lực làm người, năng lực làm việc và năng lực làm dân. (2) Năng lực làm người là có cái đầu phân biệt được thiện - ác, chân - giả, chính - tà, đúng - sai..., biết được mình là ai, biết sống vì cái gì, có trái tim chan chứa tình yêu thương và giàu lòng trắc ẩn. Năng lực làm việc là khả năng giải quyết được những vấn đề của cuộc sống, của công việc, của chuyên môn, và thậm chí là của xã hội. Năng lực làm dân là biết được làm chủ đất nước là làm cái gì và có khả năng để làm được những điều đó. Khi con người có được những năng lực đặc biệt này thì sẽ thực hiện được những điều mình muốn. Khi đó, mỗi người sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi người. ( 3) Xã hội mở ngày nay làm cho không có ai là “nhỏ bé” trên cuộc đời này, trừ khi tự mình muốn “nhỏ bé”. Ai cũng có thể trở thành những “con người lớn” bằng hai cách, làm được những việc lớn hoặc làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn. Và khi biết chọn cho mình một lẽ sống phù hợp rồi sống hết mình và cháy hết mình với nó, mỗi người sẽ có được một hạnh phúc trọn vẹn. Khi đó, ta không chỉ có những khoảnh khắc hạnh phúc, mà còn có cả một cuộc đời hạnh phúc. Khi đó, tôi hạnh phúc, bạn hạnh phúc và chúng ta hạnh phúc. Đó cũng là lúc ta thực sự “chạm” vào hạnh phúc!.” “Để chạm vào hạnh phúc” Giản Tư Trung, Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 3/2/2012 ) Câu 1. Xác định thao tác lập luận chính được sử dụng trong đoạn (2). Câu 2. Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? Câu 3. Hãy giải thích nghĩa hàm ý của cụm từ “nhỏ bé” và “con người lớn” trong đoạn văn trên. Câu 4. Nêu hiệu quả của biện pháp liệt kê trong câu văn: Khi đó, mỗi người sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi người. Câu 5. Anh/ chị sẽ chọn cách“chạm” vào hạnh phúc nào trong hai cách sau:“làm những việc lớn” hay“làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn”. Hãy đưa ra hai lý do để giải thích cho sự lựa chọn của mình GỢI Ý Câu 1. Thao tác lập luận chính trong đoạn (2): Thao tác lập luận giải thích Câu 2: Nội dung chính của văn bản trên: - Con người có năng lực tạo ra hạnh phúc, bao gồm: năng lực làm người, làm việc, làm dân. - Để chạm đến hạnh phúc con người phải trở thành “con người lớn” bằng hai cách: làm việc lớn hoặc làm việc nhỏ với tình yêu lớn. Câu 3. Giải thích nghĩa hàm ý của cụm từ “nhỏ bé” và “con người lớn” - “Nhỏ bé” là tính từ chỉ những điều/ những sự vật có kích thước nhỏ và giá trị không lớn. Nghĩa hàm ý của cụm từ “nhỏ bé” trong đoạn văn là nói về sự tầm thường, thua kém, tẻ nhạt của con người. 16
- - “Con người lớn” là cụm danh từ, không phải là nói về con người có hình dáng cao lớn mà mang hàm ý hướng đến những con người có tâm hồn có khát vọng, luôn khao khát được tự do thể hiện mình, khẳng định giá trị bản thân, thực hiện những ước mơ, sống cao đẹp, có ích, có ý nghĩa Câu 4. Hiệu quả của biện pháp liệt kê trong câu văn: Khi đó, mỗi người sẽ trở thành một “tế bào hạnh phúc”, một “nhà máy hạnh phúc” và sẽ ngày ngày “sản xuất hạnh phúc” cho mình và cho mọi người. - Biện pháp liệt kê trong câu văn là: Liệt các cụm danh từ, động từ “tế bào hạnh phúc”, “nhà máy hạnh phúc”, “sản xuất hạnh phúc”. - Hiệu quả của biện pháp liệt kê: + Nhấn mạnh, cụ thể hóa mục tiêu, vai trò, chức năng của mỗi cá nhân con người trên hành trình kiến tạo hạnh phúc cho chính bản thân, cho mọi người và cho cộng đồng xã hội. Mỗi cá nhân con người không chỉ là thành phần tạo nên hạnh phúc mà con người còn chính là nơi “sản xuất” ra hạnh phúc. + Khiến câu văn giàu hình ảnh, giàu giá trị biểu cảm. Đồng thời tạo nhịp điệu, giọng điệu cho câu văn. Câu 5. Chọn cách“chạm” vào hạnh phúc nào trong hai cách sau:“làm những việc lớn” hay“làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn”. Hãy đưa ra hai lý do để giải thích cho sự lựa chọn. - Bày tỏ quan điểm chọn cách “chạm” vào hạnh phúc: + Hoặc “làm những việc lớn” + Hoặc “làm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn” - Lí giải sự lựa chọn của bản thân: + Nếu chọn “làm những việc lớn” thì lí giải theo hướng: ++ “Việc lớn” là những việc gắn với ước mơ, lí tưởng hào hùng, lối sống năng động, nhiệt huyết, tràn đầy khát vọng. ++ Tuổi trẻ là độ tuổi căng tràn nhựa sống, nhiều khát vọng, nhiều ước mơ vì thế cần hướng tới những điều lớn lao để thỏa khát vọng của bản thân. Và chỉ khi biết hướng đến những việc lớn thì mỗi chúng ta mới có cơ hội được khẳng định mình, được đóng góp sức mình cho quê hương, đất nước, lan tỏa những điều tốt đẹp đến cộng đồng xã hội. + Nếu chọn “tìm những việc nhỏ với một tình yêu cực lớn” thì lí giải theo hướng: ++ “Việc nhỏ” là những việc làm đơn giản, nhỏ bé. “Tình yêu cực lớn” là niềm đam mê. ++ Cuộc sống vốn được tạo nên từ những điều nhỏ bé. Nhưng mỗi điều nhỏ bé đều có giá trị của nó. Và mà mỗi con người chũng ta cũng đều có một năng lực riêng, một giới hạn trí tuệ nhất định. Vì thế chúng ta nên chọn những việc phù hợp với năng lực của mình và thực hiện nó với một tình yêu, niềm đam mê mãnh liệt. ĐỀ LUYỆN 03 Đọc đoạn trích: “Tôi chỉ muốn kể bạn nghe về những cánh thư gửi ông già Noel của trẻ em trên toàn thế giới. Bạn biết không? Có những ước mơ xúc động thế này: "... Mẹ nói bố đang làm ở thiên đường chỗ ông già Noel. Cháu xin ông cho bố cháu nghỉ làm để đưa cháu đi coi sở thú", "Cháu chỉ ước một ngày không bị cười nhạo... vì cháu bị liệt não và có đôi 17
- chân cà nhắc", "Cháu thích búp bê nhưng ông hãy cho cháu một quả bóng để hai chị em cháu có thể chơi chung vì chúng cháu chưa bao giờ có đồ chơi" Có những đứa trẻ không biết chữ và khi được biết về ông già Noel đã gửi gắm: "Ông cho cháu biết mẹ cháu là ai, gia đình của cháu ở đâu, cháu muốn về nhà, muốn được đi học...". Lại cũng có những đứa trẻ bên hàng rào thép gai ở trại tị nạn viết rằng: "... xin ông sáng mai hãy cho chúng cháu một ổ bánh mỳ kẹp thịt nướng, đã bảy tháng nay cháu không biết mùi thịt nướng và ngày nào cũng nhặt vụn bánh mỳ lẫn trên đất ". Hay đứa trẻ thất thần ngồi trên đống đổ nát khi tận mắt chứng kiến cái chết của người thân, ao ước trong tuyệt vọng: "Ông già Noel, nếu ông có thật thì hãy dừng ngay chiến tranh và quét sạch máu trên quê hương của cháu...". Thế đấy, đói rét, khổ đau, mất mát, trẻ em vẫn không thôi mơ ước. Ước mơ của trẻ nói với ta về thế giới tâm hồn trong như pha lê về cuộc sống còn bao thiếu thốn, khổ đau. Những mơ ước ấy của bất cứ đứa trẻ nào cũng cao đẹp, đáng trân trọng như nhau. Và ông già Noel là phép màu giúp chúng thực hiện những ước mơ mà người lớn không làm được. Đó cũng là chỗ bấu víu của những đứa trẻ bất hạnh. Xin đừng tước đi của chúng! Còn nếu như một ngày nào đó những đứa trẻ phát hiện ra chẳng có ông già Noel với phép màu nào cả, đó là ba mẹ, là chú nhân viên bưu điện... Không sao! Đó lại là một cơ hội khác cho tình yêu thương! Mẹ, ba, chú nhân viên... đúng là người đã mặc bộ quần áo đỏ, đeo râu trắng, là người đã đặt những món quà bên lò sưởi. Lạ thay, ông già Noel gần gũi và bình dị vô cùng! Là ta khi chìa tay cho một cô bé bán vé số trong đêm Giáng sinh, là cậu bạn cùng lớp mang đến cho bạn của mình một chiếc ôtô đồ chơi với lí do "Nhà bạn không có ống khói, ông già Noel không chui vào được". Một bé em tiết kiệm tiền làm nhà cho người vô gia cư, một bạn nhỏ nuôi tóc dài trong 2 năm để giúp đỡ các bệnh nhi ung thư, các tổ chức nhân đạo, hàng ngàn người thiện nguyện vì trẻ nhỏ... Đó chẳng phải là những ông già Noel có thực trong cuộc đời này sao? Ai được con trẻ tin tưởng gửi gắm những ước mơ, ai mang đến cho trẻ niềm vui, ai yêu thương trẻ... thì đó đều là những ông già Noel của chúng rồi! Thế nhưng, trái đất này rộng lớn, tình yêu thương, lòng nhân ái dù có bao nhiêu cũng vẫn chưa thể lấp đầy. Ai sẽ là ông già Noel của những đứa trẻ lang thang, thất học, đói rét ôm nhau co ro nơi góc phố? Ai sẽ mang đến phép màu cho những đứa trẻ bơ vơ, hoảng loạn khi nhà cửa bị cuốn trôi sau cơn siêu bão? Bao đứa trẻ vô tội không có tuổi thơ và cũng không biết tương lai sẽ ra sao khi chung quanh chỉ toàn bom đạn, mất mát và những cuộc trốn chạy khỏi quê hương? Liệu bao giờ chúng thực sự có một lễ Giáng sinh? Và giờ thì bạn thấy đấy, dù bạn là ai, ở đâu, địa vị sang hèn thế nào, nếu bên cạnh bạn có một đứa trẻ, hãy trở thành ông già Noel của chúng! Bạn ạ, tương lai của nhân loại nằm trong tay những người mà giờ đang là đứa trẻ. Một vĩ nhân, một CEO danh tiếng, một chính trị gia quyền lực, thậm chí một trùm khủng bố, một người vô danh hay một nhân vật nắm trong tay vận mệnh của nhân loại thì cũng từng là đứa trẻ thôi. Nếu mọi đứa trẻ đều được nuôi dưỡng trong đủ đầy yêu thương, có tâm hồn trong sáng và hướng thiện thì liệu thế giới này còn có chiến tranh, bao lực, vô cảm, tham lam hay bất công? Thân ái! 18
- GỢI Ý Câu 1. Mối quan hệ giữa thực tại và ước mơ của những đứa trẻ là sự đối lập, trái ngược nhau: - Thực tại đầy bất hạnh, thiếu thốn, khổ đau: mất cha, mất mẹ, không gia đình, người thân, bị tàn tật, đói nghèo, đối diện với chiến tranh, chết chóc... - Ước mơ đẹp, ngọt ngào, hạnh phúc: được sống trong hòa bình, bên cạnh những người thân yêu, được đi học, được ăn no, được lành lặn... Câu 2. Những lí lẽ mà tác giả đã đưa ra để thuyết phục chúng ta: Xin đừng tước đi hình ảnh ông già Noel trong những đứa trẻ là: - Bất cứ ước mơ nào của trẻ con cũng đều cao đẹp, đáng trân trọng. Và ước mơ ông già Noel có thật trong đời càng đẹp hơn. - Cuộc sống còn muôn vàn thiếu thốn, khổ đau, ông già Noel là chỗ “ bấu víu” của những đứa trẻ bất hạnh. - Ông già Noel là phép màu giúp chúng thực hiện ước mơ mà người lớn không làm được - Ông già Noel không chỉ có trong ước mơ của lũ trẻ mà còn có trong đời thực. Ông già Noel ở trong hình hài của cha, mẹ, của người thân, bạn bè...của những người yêu thương, tin tưởng chúng, những người mang tới niềm vui, hạnh phúc cho chúng... Câu 3. Các giá trị “ chân, thiện, mỹ” được tác giả thể hiện qua đoạn văn: - “ Chân” là cái thật, cái đúng, cái lẽ phải của cuộc sống. Đoạn văn trên đã thể hiện “ cái thật” trong cuộc sống ngày nay vẫn còn quá nhiều những khổ đau, bất hạnh: những cuộc chiến tranh kéo dài, sự hủy diện của thiên tai, đói nghèo, thất học... - “ Thiện” là những việc làm, những điều tốt lành của con người, cuộc sống. Đoạn văn trên đã thể hiện tình yêu thương, nhân ái của con người trong cuộc sống; tấm lòng luôn trăn trở hướng về những đứa trẻ, những mảnh đời khổ đau bất hạnh của chính tác giả - “ Mỹ” là cái đẹp. Cái đẹp mà tác giả thể hiện trong đoạn văn trên là cái đẹp trong tâm hồn mỗi con người khi quan tâm tới những mảnh đời khổ đau, bất hạnh; là cái đẹp trong tâm hồn của chính tác giả. Câu 4. Câu văn: Một vĩ nhân, một CEO danh tiếng, một chính trị gia quyền lực, thậm chí một trùm khủng bố, một người vô danh hay một nhân vật nắm trong tay vận mệnh của nhân loại thì cũng từng là đứa trẻ thôi gợi cho anh/chị suy nghĩ gì? - “Vĩ nhân, CEO, chính trị gia, nhân vật nắm trong tay vận mệnh nhân loại” là những người có tài năng, có nhân cách, có những đóng góp lớn cho quê hương, đất nước; cho cộng đồng xã hội và cho nhân loại. “Trùm khủng bố” là kẻ ác, thường gây ra chết chóc, đau thương cho con người. “Người vô danh” là những người đời thường, nhỏ bé không có vị trí, không có ảnh hưởng gì đến cộng đồng xã hội, quê hương đất nước. - Câu nói đã khẳng định: Bất cứ một đối tượng nào dù là những người tài năng, có vai trò quan trọng trong xã hội hay những kẻ gây ra tội ác cho xã hội thì cũng đã từng là một đứa trẻ. - Câu nói gợi cho chúng ta những suy nghĩ sâu sắc: + Giúp chúng ta nhận thức được hành trình cuộc đời của con người nói chung đều giống nhau ở quy luật chung: sinh ra – lớn lên – trưởng thành; đều đã từng là đứa trẻ. Và chính quá trình nuôi dưỡng khác nhau đã hình thành những tính cách khác nhau trong mỗi đứa trẻ. 19
- + Từ đó giúp chúng ta nhận thấy cần phải biết yêu thương, bao bọc chở che những đứa trẻ. Tương lai của mỗi cá nhân con người, tương lai của quê hương, đất nước hay tương lai của nhân loại phụ thuộc vào chính quá trình nuôi dưỡng ấy. + Chúng ta cần có trách nhiệm và những hành động để chăm sóc, bảo vệ, yêu thương những đứa trẻ. Câu 5. - Bày tỏ quan điểm của bản thân: Đồng tình hay phản đối hay đồng tình một phần - Lí giải cho quan điểm của bản thân: + Nếu đồng tình thì lí giải theo hướng: Lễ Giáng sinh và hình ảnh ông già Noel là nét đặc trưng của văn hóa phương Tây. Quá trình hội nhập đã kéo theo sự du nhập của nét văn hóa này vào Việt Nam. Việc lạm dụng, phô trương, thương mại hóa các sự kiện nhân dịp lễ Giáng sinh khiến nhiều người lầm tưởng đó là kì lễ truyền thống, làm lu mờ đi những lễ hội truyền thống thực sự của dân tộc. + Nếu phản đối thì lí giải theo hướng: Lễ Giáng sinh và hình ảnh ông già Noel là một nét đẹp văn hóa, mang giá trị nhân văn tốt đẹp. Trong quá trình hội nhập, Việt Nam không khước từ những nét văn hóa đẹp đó, mà chọn lọc để tạo nên một ngày Lễ giáng sinh, một hình ảnh ông già Noel mang đậm vẻ đẹp của đất nước, con người Việt Nam. + Nếu đồng tình một phần thì kết hợp cả hai ý trên. ĐỀ LUYỆN 04 Đọc đoạn trích: " ....Có những lúc chúng ta đã quá quen với những vỗ về của cuộc sống, của mẹ của cha, không tự lo nổi cho mình những việc giản đơn; rồi thành thói quen và thành ỷ lại. Từ hôm nay, hãy biết nghĩ về nhà, về phố, về đồng làng một nắng hai sương, về người nông dân chờ mùa nước lũ, về những người thân ngày đêm tần tảo và nghĩ lớn hơn là Tổ quốc Việt Nam. Quá khứ là hành trang mang theo trong tâm tưởng của mỗi đời người, quá khứ sẽ thôi thúc để vươn lên nhưng chớ sống chỉ bằng quá khứ. Hãy nghĩ về tương lai và hành động để có tương lai tốt đẹp. Hãy biết nghĩ đến miếng cơm manh áo, nhưng thanh niên, sinh viên mà suốt ngày lẫm lũi để hết tâm trí dồn vào cái ăn, cái mặc cho riêng mình thì thật nhỏ nhoi và bạc nhược. Hãy vượt thoát lên hoàn cảnh để làm những điều cao cả, xây những chí lớn cho đời. Công cha, nghĩa mẹ là nặng sâu, nhưng hãy nghĩ điều thiêng liêng hơn, đó là đất nước. Không xa đâu, đó là mảnh đất đời người nuôi mình khôn lớn, đó là dòng sông nối giữa đôi bờ, đó là cánh rừng hẹp dần vì mưu sinh của đồng bào nghèo khó, đó là bờ biển dài ôm trọn mảnh đất thiêng và ngoài kia là biển cả sóng vỗ về để có những vần thơ. ... Đến tuổi này, các em đừng mơ những giấc mơ đơn độc. Thành công của những ước mơ riêng tư cùng lắm thì thay đổi một phận đời, nhưng đất nước này cần biết bao những ước mơ cao cả để mai ngày hiện thân một dân tộc tự cường. ... 20



