Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn 12 - Chủ đề: Khả năng lao của tiểu thuyết
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn 12 - Chủ đề: Khả năng lao của tiểu thuyết", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_cuong_on_tap_giua_hoc_ki_i_ngu_van_12_chu_de_kha_nang_lao.docx
Nội dung text: Đề cương ôn tập giữa học kì I Ngữ văn 12 - Chủ đề: Khả năng lao của tiểu thuyết
- CHỦ ĐỀ (BÀI): KHẢ NĂNG LAO CỦA TIỂU THUYẾT A. ÔN TẬP TRI THỨC NGỮ VĂN VỀ TRUYỆN NGẮN HIỆN ĐẠI I. Khái quát về tri thức ngữ văn 1. Tiểu thuyết hiện đại a. Tiểu thuyết - Khái niệm là loại tác phẩm tự sự quy mô lớn, có khả năng thể hiện các nội dung đa dạng và bao quát một phạm vi hiện thực rất rộng, trải ra trên nhiều không gian, thời gian khác nhau nhưng dành sự chú ý đặc biệt cho đời tư hay số phận của con người cá nhân. - Đặc điểm phát triển: phát triển theo nhiều hướng khác nhau, tùy thuộc vào tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa, thẩm mĩ nhất định. - Vị trí: Là thể loại chính của đời sống văn học và tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi, phát triển của nhiều thể loại khác. b. Tiểu thuyết hiện đại - Khái niệm: là loại tiểu thuyết thể hiện một cách tư duy mới, mang tính hiện đại về đời sống. - Đặc điểm: + Nhìn cuộc sống từ góc độ đời tư; quan tâm đến cái thường ngày, cái đang diễn biến với cách tiếp cận gần gũi; không lí tưởng hóa hiện thực. + Nhân vật là “con người nếm trải”, không bất biến, có quá trình phát triển nhiều khi quanh co, phức tạp về tính cách, tâm lí. + Có kết cấu nhiều tầng lớp, tuyến tình hoặc phi tuyến tính; có sự đan xen của nhiều bè ngôn ngữ, phản ánh sự tồn tại, xung đột thường xuyên giữa các ý thức xã hội. + Có khả năng tổng hợp cao mọi kinh nghiệm nghệ thuật của thể loại văn học khác để hình thức luôn ở trong trạng thái biến đổi không ngừng. 2. Phong cách hiện thực - Phong cách hiện thực là phong cách nghệ thuật chú trọng thể hiện mối quan hệ giữa hoàn cảnh xã hội với sự hình thành tính cách con người, quan tâm miêu tả một cách chi tiết, “như thật” những hình ảnh phong phú, phức tạp của hiện thực cuộc sống. - Có trong các thể loại của văn học như: thơ, truyện (bao gồm tiểu thuyết), kí, kịch, tác phẩm tạo hình,.. - Trong văn học thế giới, phong cách hiện thực đạt đến đỉnh cao với những sáng tạo thuộc trường phái hiện thực mà các đại diện tiêu biểu là S. Đích-ken (Ch. Dickens - Anh), H. đờ Ban-dắc (H. de Balzac - Pháp), L.Tôn-xtôi (L. Tolstoy - Nga), Ph. Đốt- xtôi-ép-xki (F.Dostoyevsky - Nga), Lỗ Tấn (Trung Quốc), - Trong văn học Việt Nam nửa đầu thể kỉ XX, phong cách hiện thực gắn với tên tuổi và sáng tác của các nhà văn như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao,.. - Phong cách hiện thực thường được đặt trong tương quan so sánh, đối lập với phong cách lãng mạn - một phong cách ưu tiên việc thể hiện cảm nhận chủ quan, đôi khi lí tưởng hóa đối tượng được đề cập và coi trọng sự tưởng tượng, liên tưởng phóng túng. 1
- B. HỆ THỐNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ CÁC VĂN BẢN ĐỌC I. Xuân Tóc Đỏ cứu quốc (Trích Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) 1. Khái quát về tác giả, hoàn cảnh ra đời 2. Nội dung - Đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc là một vở bi hài kịch, phơi bày sự tha hoá về nhân cách của những kẻ đại diện cho xã hội “chó đểu”; sự xuống cấp của cả hệ thống, một chế độ xã hội đang trên đường băng hoại đầu thế kỉ XX trước cơn xoáy Âu hoá ở Việt Nam. 3. Nghệ thuật. - Nghệ thuật tạo tình huống cơ bản rồi mở ra những tình huống khác. - Phát hiện những chi tiết đối lập gây gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc. - Thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa, được sử dụng một cách linh hoạt. - Miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân II. Nỗi buồn chiến tranh (Trích - Bảo Ninh) 1. Khái quát về tác giả, hoàn cảnh ra đời 2. Nội dung - Đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh thể hiện sự dằn vặt, giằng xé trong tâm hồn của nhân vật Kiên, sự đồng cảm và thấu hiểu của nhân vật tôi; đồng thời phản ánh sự kinh hoàng của chiến tranh cũng như những tác hại của nó gây ảnh hưởng mãi về sau với những người đã từng đi qua nó. 3. Nghệ thuật. - Nhân vật gần như không có “hành động bên ngoài” mà chỉ có “hành động bên trong”, tức là chỉ hiện lên trước người đọc với dòng tâm tư bất tận, không có diện mạo, tính cách hoàn chỉnh. - Sử dụng thủ pháp đồng hiện và bút pháp dòng ý thức. - Đoạn trích mờ nhạt (hay thiếu) yếu tố sự kiện. - Tiểu thuyết hiện đại thường có kết cấu đa tầng, đa tuyến. - Điểm nhìn và ngôi kể có thể thay đổi bất ngờ, linh hoạt. - Ngôn ngữ thường đa thanh và giọng giễu nhại được sử dụng thường xuyên. C. YÊU CẦU ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TIỂU THUYẾT Nhận biết: - Nhận biết được nhân vật người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn trong tiểu thuyết (hiện đại hoặc hậu hiện đại). - Nhận biết được một số yếu tố của tiểu thuyết (hiện đại hoặc hậu hiện đại) như: diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật. - Nhận biết được đề tài, đặc điểm ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại / hậu hiện đại. - Nhận biết được các dấu hiệu hiện đại hoặc hậu hiện đại trong tiểu thuyết. Thông hiểu: - Tóm tắt được cốt truyện. - Phân tích được những đặc điểm của nhân vật tiểu thuyết hiện đại / hậu hiện đại. - Lí giải vai trò, ý nghĩa của nhân vật với chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. 2
- - Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của những chi tiết quan trọng trong tác phẩm; phân tích được tác dụng của những yếu tố hậu hiện đại (nếu có) trong tác phẩm. - Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản; phân tích được sự phù hợp giữa người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản. - Phát hiện và lí giải được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ; giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ tác phẩm. - Phân tích được quan điểm của người viết về lịch sử, văn hoá, được thể hiện trong văn bản. - Hiểu và lí giải được một số đặc điểm cơ bản của phong cách văn học (nếu có) thể hiện trong tác phẩm. Vận dụng: - Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và kiến thức văn học để đánh giá, phê bình văn bản tiểu thuyết (hiện đại / hậu hiện đại), thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về tác phẩm. - Đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm. Vận dụng cao: - Đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để đánh giá ý nghĩa, giá trị của tác phẩm. - Vận dụng những hiểu biết về lịch sử, văn hóa để lí giải quan điểm của tác giả thể hiện trong tác phẩm. - Đánh giá được khả năng tác động của tác phẩm văn học đối với người đọc và tiến bộ xã hội theo quan điểm cá nhân. D. RÈN KĨ NĂNG ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TIỂU THUYẾT THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI 1. Đề số 01: Đọc văn bản sau: Không thấy tên lính lệ đấy nữa, ông gật đầu một cái thì bà huyện kệ nệ xích lại gần chồng, nghiêng đầu nghe nói thầm... - Mợ tính nào là bắt phu, bắt tre, ở tỉnh thế nào người ta cũng cho là mình gặp dịp béo bở, dù không ăn người ta cũng cho là ăn. Như thế không ăn cũng dại. Nếu mà vỡ đê nữa thì họ lại càng tin là mình kiếm chác được nhiều... Bà huyện vì chưa bao giờ được làm việc quan, nhất là lại việc quan vào những lúc vỡ đê, nên rất kinh ngạc. Bà trợn mắt, cái miệng thành ra tròn y như một chữ o. Mãi mới lắp bắp: - Kiếm chác?... Vỡ đê mà lại còn kiếm chác? Ông chồng nổi nóng: - Bẩm vâng ạ! Nếu vỡ đê thì tất có nhiều chuyện lôi thôi! Tất rồi có thằng lý trưởng này bị cách chức, thằng chánh tổng kia được bát phẩm! Rồi còn cứu tế, còn chẩn bần! Mặc dầu ngu dại là giống đàn bà, khi người ta đã là vợ một ông huyện thì người ta cũng phải thông minh trước những câu cắt nghĩa mập mờ ấy. Bà gật gù mà rằng: - À à! (Vũ Trọng Phụng, Vỡ đê, NXB Văn Học, 2022) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Xác định ngôi kể trong văn bản trên. Câu 2. Liệt kê những lời thoại của bà huyện trong văn bản. 3
- Câu 3. Từ tâm ý của quan huyện trong cuộc đối thoại với vợ, anh/chị hiểu gì về vị quan này? Câu 4. Đặc điểm cơ bản nào của phong cách hiện thực được thể hiện trong văn bản? Câu 5. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào về thái độ của nhà văn khi viết những dòng tiểu thuyết trên? 2. Đề số 02: Đọc văn bản sau: Xe đã bám vào được đoạn núi tương đối khô ráo. Sơn tăng được tốc độ lên. Anh ta nói: - Giải ngũ tôi sẽ thôi lái. Tôi sẽ vác đàn đi hát rong. Hát rong và kể chuyện. Các ông, các bà, các anh, các chị xin hãy nghe tôi kể câu chuyện đau thương này, và sau đó tôi sẽ hát để mọi người nghe bài ca kinh hoàng về thời đại của chúng tôi. - Cải lương lắm? - Kiên nói - Theo tôi, lẽ ra phải khuyên mọi người hãy quên đi. - Nhưng làm thế nào mà quên nổi? Sẽ chẳng quên nổi một cái gì. Dĩ nhiên, Kiên nghĩ, quên thật là khó. Nói chung chẳng biết đến bao giờ thì lòng mình mới có thể nguội nổi, trái tim mình mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết chặt của những kỷ niệm chiến tranh. Những kỷ niệm có thể là êm đềm, có thể là ác hại nhưng đều để lại những vết thương mà tới bây giờ một năm đã qua, hay mười năm, hay hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi. Có thể từ rày cuộc đời anh sẽ luôn luôn như thế này chăng: tối tăm, đau khổ nhưng rạng ngời hạnh phúc? Và có thể giữa mơ với tỉnh, như cheo leo trên bờ vực mà anh sẽ vượt nốt chặng đường đời còn lại. Dù sao thì mới chỉ có hai mươi tám năm sống ở trên đời. Và dù cho đó là khoảng thời gian bị mất, nhưng chẳng phải lỗi của anh, chẳng phải lỗi của anh cả. Hẵng cứ biết rằng anh sẽ còn được sống và từ đây sự sống ấy tùy thuộc anh. Hẵng cứ biết rằng không chỉ là một cuộc đời mới mà còn là cả một thời đại mới đang đến cùng anh phía trước. (Bảo Ninh, Nỗi buồn chiến tranh, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 1991) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Tác giả đặt điểm nhìn vào nhân vật nào khi viết đoạn văn bản trên? Câu 2. Xác định dạng lời văn nghệ thuật trong đoạn văn bản sau: Nói chung chẳng biết đến bao giờ thì lòng mình mới có thể nguội nổi, trái tim mình mới thoát khỏi gọng bàn tay xiết chặt của những kỷ niệm chiến tranh. Những kỷ niệm có thể là êm đềm, có thể là ác hại nhưng đều để lại những vết thương mà tới bây giờ một năm đã qua, hay mười năm, hay hai mươi năm nữa vẫn còn đau, đau mãi. Câu 3. Mục đích của tác giả khi xây dựng cuộc đối thoại giữa Sơn và Kiên là gì? Câu 4. Anh/Chị hiểu nội dung câu văn “Và dù cho đó là khoảng thời gian bị mất, nhưng chẳng phải lỗi của anh, chẳng phải lỗi của ai cả.” như thế nào? Câu 5. Anh/Chị có đồng ý với suy nghĩ của nhân vật Kiên: anh sẽ còn được sống và từ đây sự sống ấy tùy thuộc anh không? Vì sao? 3. Đề số 03: Đọc văn bản sau: Viên thẩm phán dỗ dỗ đầu bút xuống mặt giấy như thể gõ nhịp: - Chị đã nghe rõ ý kiến của anh Sài chưa? - Tôi nghe rõ rồi ạ. 4
- - Chị có ý kiến gì về tài sản và con cái. - Về tài sản, tuỳ toà quyết định như thế nào tôi cũng xin chấp hành. Riêng phần con: Cháu Giang Minh Thuỳ không phải là con của Sài. - Chị có chứng cớ. - Chứng cớ là tính từ ngày chúng tôi đi lại với nhau đến khi sinh cháu có bảy tháng ba ngày. - Chị sinh cháu thứ hai cũng không được đủ tháng. - Vâng, nhưng cháu Thuỳ nặng 3,2 Kg không có biểu hiện gì của sự thiếu tháng. - Đã bao giờ chị cho anh Sài biết chuyện này chưa? - Chưa. - Chị nói tiếp. - Vâng. Nguyện vọng của tôi là anh Sài không được phép nuôi cháu Giang Minh Thuỳ. - Nhưng chị cũng xác nhận anh ấy là người vất vả chịu khó nuôi con. - Thưa toà. Vì không phải là dòng máu của mình, nhất là đến hôm nay anh Sài mới biết chuyện này, anh sẽ không đủ sức mà thương yêu, nuôi dưỡng một đứa trẻ không phải là con của mình. Có những lúc Sài đã chạnh nghĩ đến nó nhưng không bao giờ ngờ tới những lời của Châu như lúc này. Đầu óc anh choáng váng, mắt vẫn nhìn lên mà không còn thấy gì, không nghe được Châu nói tiếp những gì. Trong anh chỉ còn những hình ảnh con [ ], hàng tháng trời ngồi thâu đêm giữ kim và ôm con cho vợ ngủ. Những lời thông minh hóm hỉnh đầy tình cảm của nó: “Thuỳ thương bố nhất. Nhớn lên Thuỳ sẽ đi bán kem cho bố tha hồ ăn nhỉ”- “Sao mắt bố chảy nước? Bố khóc, Thùy buồn lắm” [ ] Chiều hôm đó còn đồng nào trong túi Sài mua hết bánh kẹo cho các con. Anh bế và hôn lên khắp người mỗi đứa. Anh khoác chiếc ba lô có cái màn và mấy bộ quần áo nói với các con: “Bố đi công tác xa”. Rồi vội vã bước ra khỏi nhà. Với bộ mặt lạnh lẽo cay độc Châu vẫn nhìn anh như kẻ thù nhưng đến khi anh đi khỏi, hai đứa trẻ khóc oà chạy theo bố, cô cũng gục đầu xuống gối nức nở. Cho đến khi hai con chạy vào mỗi đứa một bên mếu máo lay gọi mẹ thì những ngừơi ở khu tập thể đã đứng đầy phía ngoài. Nhìn qua khe cửa thấy cảnh ba mẹ con kêu khóc trên một chiếc giường, nước mắt ai cũng muốn rào ra, ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai, cô gái rằng: Các người hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩn rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các người. Nhưng đừng có kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người. (Lê Lựu, Thời xa vắng, NXB Văn học, 2022) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Điều gì xuất hiện trong ý nghĩ của Sài khi biết Thùy không phải là con trai mình? Câu 2. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong đoạn văn bản sau: “Nhìn qua khe cửa thấy cảnh ba mẹ con kêu khóc trên một chiếc giường, nước mắt ai cũng muốn rào ra, ai cũng muốn kêu to lên với những chàng trai, cô gái rằng: Các người hãy cứ yêu nhau say đắm và mê mẩm rồi lại cắn xé nhau như chó mèo đi. Tất cả đều là quyền của các ngừơi. Nhưng đừng có kẻ nào dã man tạo ra những đứa trẻ 5
- để lại trút lên cái cơ thể bé bỏng ngây thơ của nó những tội lỗi sinh ra từ lòng ích kỷ không cùng của các người.” Câu 3. Qua sự chuyển biến tâm lí, hành động của Sài trong đoạn văn bản trên, anh/chị thấy Sài là người như thế nào? Câu 4. Nhận xét của anh/chị về sự chuyển biến trong lời kể ở đoạn văn bản trên. Câu 5. Hình ảnh hai đứa trẻ khi phải chứng kiến cảnh bố mẹ li hôn trong văn bản gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì? 4. Đề số 4: Đọc văn bản sau: Đầu canh hai, trăng từ từ mọc lên bên kia dải rừng, to như một cái nong. Tôi mở mắt ra, sờ tay thấy sương thấm ướt khắp người. Trong lớp sương đục nhờ nhờ, vầng trăng đỏ như một cái lòng đỏ trứng khổng lồ. Càng lên cao, trăng càng bé lại. Nhìn qua be xuồng, thấy nước gợn lăn tăn... Tôi vừa thiu thiu chợp mắt lại, bỗng nghe thằng Cò vụt nhổm dậy: - Dậy mau! Dậy mau? Dính một con rồi - Tao vừa thức đây mà. Có thấy cái quái gì đâu - Mày biết cái con khỉ gì? - Nó quát tôi. Tôi lập tức đánh diêm thắp ngọn đèn soi. Tay tôi run quá, tim cứ đập thình thình. Thằng Cò ấn cây giầm vào tay tôi, ra hiệu cho tôi chống xuồng tới. Nó cầm cái mác trong tay, một tay đưa đèn lên soi phía trước. Ồ, kia rồi? Tàu lá dừa nước bị ai kéo cứ dập lên dập xuống, làm nước bắn tung tóe. Tiếng dây câu nghiến kìn kịt trong tiếng lá dập xuống nước nghe kinh quá. Tôi kêu oái một tiếng, đứng chết sững. Một con rắn rằn ri cóc to cỡ bắp chân người lớn đang vung vẩy uốn mình lên quấn lấy chùm dây câu. Cái miệng nó há ra, đầy răng chơm chởm. chỗ ngạch lưỡi câu mắc bên mép, máu chảy giọt giọt xuống nước. Mỗi lần con rắn vặn mình cố siết cho đứt chùm dây câu, da nó nở ra, vồng lên như gai mít. Thằng Cò buông mác, thò tay nắm đuôi con rắn. Con rắn tháo ra, quấn một khúc vào tay thằng Cò. Thằng Cò chộp ngang lưng con rắn, bàn tay nó bé quá tuột ra vì không nắm hết. Con rắn càng gồng mình siết chặt cổ tay thằng Cò. Mồ hôi tươm ra ướt trán, chảy ròng ròng xuống má, nó bậm môi, cứ mặc thế, ngửa người ra sau lôi nguyên con rắn mắc câu vào xuồng. - Coi chừng nó cắn chết à, Cò - Tôi thè lưỡi nhích ra xa. Cắn quái gì nữa! Mà thứ rắn này cắn cũng như chó cắn thôi. Đưa miệng giỏ lại đây, mau mau đi. Tôi kê miệng giỏ hứng con rắn. Thằng Cò ghé răng cắn chót đuôi con rắn một cái, con rắn đau quá vội tháo khỏi cổ tay thằng Cò, tuột gọn vào lòng giỏ. Thằng cò một tay đậy nắp, một tay chụp cái mác chặt hai đầu sống lá. Cả khúc sống lá chùm dây câu và con rắn đảo lộn, quẫy soạn soạt trong giỏ. - Hì.. hi... Da con này lột ra phơi, bán bộn tiền. Mai chúng mình bảo má nấu nồi ca- ri ăn chơi? Con rắn to nhưng cái đầu nó chỉ bé bằng quả bàng thôi. Hai con mắt đục lừ lừ nhìn ngọn đèn soi. Thằng Cò hé nắp giỏ chộp cổ con rắn tháo lưỡi câu ra, lôi khúc sống lá dính chùm dây câu ra khỏi giỏ rồi thong thả đậy nắp, gài chốt lại. - Để tao thử con rắn cho mày coi - nói xong nó thọc một ngón tay vào mắt giỏ gãi gãi lên lưng con rắn. Khi con rắn quay ngoắt lại toan mổ vào ngón tay thì thằng Cò đã rụt ngón tay ra rồi. 6
- - Cu cậu bị ớt cay, sưng cả miệng đấy, mày thấy không? Vậy, mình mới dễ bẻ răng. Mà nó cũng chẳng cắn mổ gì được nữa... Tàu lá đằng kia rung lên sàn sạt. Thằng Cò reo lên: - Sướng rồi? Dính một con nữa rồi! Tôi chụm chân nhẩy đồm độp trên xuồng, làm chiếc xuồng nghiêng qua lắc lại tí nữa là chìm. - Ấy là nhờ mình buộc chùm dây câu vào sống lá, phải không Cò? Chứ đến cần câu to bằng cật tre đi nữa thì nó nhổ lên và lôi đi tuột, mày nhỉ! Con này của mày đó, An nhá? Của mày buộc câu mà. - Ừ tao làm cũng được, khó gì mấy. Nhưng mà... con này mày cứ bắt nữa đi, Cò ạ. Để tao xem mày bắt vài trận nữa đã. Chừng có con khác mắc câu, tao bắt thử cho mày coi, có được không? Tàu lá đang bị kéo ghì xuống nước bỗng bật tung trở lên. Thôi chết cha tôi rồi, An ơi! Mày buộc làm sao mà nó mới kéo có mấy cái đã tuột luốc rồi! Tôi không biết nói ra sao, tay buông giầm rơi xuống xuồng cái độp, nhìn theo những giọt nước từ trên tàu lá đổ xuống ròng ròng, tiếc ngẩn tiếc ngơ. (Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, 2012) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn văn bản trên. Câu 2. Liệt kê những hành động của Cò khi bắt rắn. Câu 3. Cuộc trải nghiệm của hai bạn nhỏ giúp anh/chị hiểu gì về Đất rừng phương Nam? Câu 4. Cách tác giả chọn nhân vật để đặt điểm nhìn có tác dụng gì? Câu 5. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về ý nghĩa của sự trải nghiệm? 5. Đề số 5: Đọc văn bản sau: Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con. Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào Một lúc lâu, người đàn bà tươi cười bảo vợ chồng Năm: - Đã khuya rồi, xin rước ông đi ngủ với nhà cháu, còn bà thì nằm giường trong buồng nghỉ cho đỡ mệt. Người đàn ông nói tiếp: - Thật may mắn, nhà cháu vừa mua được cặp chiếu đậu, lại vừa mới giặt chiều qua Bính cảm ơn, đoạn đến bên cạnh giường kê gần cửa sổ nằm. Bính chợp ngủ đi. Chợt tiếng gà gáy trong mấy xóm rải rác đằng xa vẳng lên. Bính đương mơ màng tỉnh ngay giấc. Rồi thì Bính không sao ngủ được nữa, khi tiếng gà gáy im bặt, những nhịp thở đều đều không biết của người vợ hay người chồng, hay đứa con thơ ở giường ngoài buồng đưa lại, như rót vào tai Bính. Giữa khoảng đêm mưa gió ào ào, hơi thở ngon 7
- lành kia lại gợi lên trong lòng Bính ngùn ngụt sự thèm thuồng khao khát một cuộc đời trong sạch êm đềm dù nghèo nàn. Nhưng Bính đau tủi biết bao thấy rằng cái ước mong đó không thể nào có được, Bính chỉ có thể gặp cái đêm như đêm nay, một đêm trong cái đời nguy nan điêu đứng dừng bước trong một gia đình ấm cúng nào đấy, để mà tiếc, mà khát khao và xót xa thôi. (Nguyên Hồng, Bỉ vỏ, NXB Văn học, 2021) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Xác định loại điểm nhìn trong đoạn văn: “Rồi người mẹ vạch yếm cho con bú! Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con. Trước mặt người đàn bà, Bính mủi lòng đưa mắt nhìn Năm Sài Gòn ăn bát cháo xong ngồi dựa lưng vào bức vách mơ màng với khói thuốc lá. Bính chua xót nhớ tới đứa con nhỏ bán đi năm xưa và đứa con đẻ sẩy, và càng xót xa đau đớn hơn khi người đàn bà cúi hôn xuống cặp má phúng phính xinh xắn của đứa bé, và người đàn ông thì nồng nàn nhìn vợ ẵm con. Bính thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai, còn mình thì khổ sở không biết chừng nào đến đời nào” Câu 2. Bính cảm nhận về số phận của mình như thế nào khi “thấy vợ chồng người nọ thật sung sướng hơn ai”? Câu 3. Chi tiết “Thằng bé ngậm núm vú bú ụt à ụt ịt như con lợn con” có ý nghĩa như thế nào với Tám Bính? Câu 4. Anh/Chị hiểu như thế nào về những khao khát của Tám Bính qua văn bản? Câu 5. Anh/Chị có đồng ý với ý kiến cho rằng: Cuộc sống có ý nghĩa khi chúng ta có khát vọng không? Vì sao? 6. Đề số 6: Đọc văn bản sau: Một hôm Thứ ngỏ ý phàn nàn cho những người như ông Học, thất học từ thủa nhỏ, dốt nát, trí óc hẹp hòi, sống một cuộc đời gần như súc vật: thô kệch, mù tối, nghèo nàn. San lộ vẻ hoài nghi: - Anh tưởng ông Học khổ hơn chúng mình ư? Tôi ngờ lắm. Để tôi tính cho anh nghe. Ông Học làm việc mười giờ thì anh cũng làm việc mười giờ. Công việc của ông ta dễ dàng hơn công việc của anh, dễ dàng và đỡ mệt người hơn. Dạy học xong, anh đã thật yên lòng về bọn học trò chưa? Ông, trái lại: miễn làm sao cho đậu ra thành bột, bột đậu thành ra đậu phụ thế là ông có thể ngủ rất ngon giấc rồi... Bây giờ nói đến tiền làm đậu như thế, mỗi ngày ông có thể lãi được từ một đến hai đồng. Đủ cho cả nhà ăn. Có thể thừa, nhưng tôi chỉ nói đủ thôi. Bã đậu dùng để nuôi lợn đẻ ra. Mỗi năm vài lứa lợn, lại không được trăm bạc, hơn trăm bạc à?... Còn anh, anh làm có nuôi nổi vợ con không? Liệu suốt đời anh, có bao giờ anh tậu được một mảnh đất, xây nổi một cái nhà, tạo nổi một cơ nghiệp xoàng xoàng như cái cơ nghiệp của ông Học thôi không? Ấy là chưa nói đến nỗi bấp bênh của chúng mình, tay không, bao nhiêu tiền của đổ ra để học mất cả rồi, nhỡ thất nghiệp một cái thì chết toi... - Đã đành rồi. Nhưng nói như San, thì người ta mất bạc nghìn để học, chả là dại lắm sao? San cười: - Người ta không dại, nhưng lầm. Người ta cho con đi học, ai cũng muốn cho con sau này thi đỗ làm quan, hay ít cũng là ông phán, ông tham, chứ có định cho con 8
- làm ký khổ nhà buôn, giáo khổ trường tư hay thất nghiệp đâu. Nhưng sự đời nó xoay ra thế. Bố mẹ chúng mình bây giờ nghĩ tiếc số tiền bỏ ra cho chúng mình học ngày xưa lắm đấy nhé! Đích cũng đã có lần nói với Thứ na ná như San vậy. Y ngỏ ý tiếc số tiền và cái công lao đã bỏ ra để học hành. Nhất là số sức khỏe bị mất đi. Gia đình y cho y đi học, cũng như làm một việc buôn. Y phải cố học hành cho đáng với số phí tổn về việc học của y, cho khỏi phụ lòng mong mỏi của mẹ, cha. Y đã học ngày học đêm, mỗi đêm chỉ ngủ có ba giờ. Học đêm ốm người. Cái thời kì đang lớn lên, đã phải lao tâm, lao lực quá độ như vậy, lại chẳng được bồi dưỡng gì. Chỉ có thể trả ít tiền, y phải trọ học ở những chỗ rẻ tiền, ăn thế nào thì thôi, có khi chưa đủ no, ở thì bẩn thỉu, chật chội, tối tăm, ít không khí nhưng lại nhiều người, nhiều chuột, gián và muỗi rệp. Y không ra đến ngoài, không đi chơi, không tập thể thao, vì sợ tốn thì giờ. Do thế mà sức khỏe bị bại đi. Vào một trong những phút chán nản nhất của đời y, y đã rơm rớm nước mắt bảo Thứ bằng một cái giọng nửa như oán than, nửa như buồn rầu: - Giá bố mẹ chúng mình cứ để cho chúng mình đi chăn trâu, cắt cỏ, rồi đi cuốc đi cày lại hơn. Chỗ tiền cho chúng mình đi học, để chúng mình làm cái vốn làm ăn. Cứ vậy thì có lẽ bây giờ chúng mình đã yên thân rồi. Biết đâu chăng đã giàu? Cho chúng mình đi học thì sạt nghiệp mà chúng mình thành ra khổ. Chúng mình hóa dở dang. Chạy chọt để vào làm sở nọ, sở kia thì chúng mình lấy tiền đâu? Làm thợ thì không có nghề. Đi buôn thì không vốn. Về nhà quê làm ruộng thì chúng nó cười cho thối đầu lâu. Vả lại cuốc không hay, cày không biết, với cũng không có sức. Ngay lưng quen rồi. (Nam Cao, Sống mòn, NXB Hội Nhà văn, 2022) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Xác định ngôi kể trong đoạn văn bản trên. Câu 2. Chỉ ra những suy nghĩ của nhân vật Thứ về ông Học. Câu 3. Theo anh/chị, sự khác biệt giữa Thứ và San trong cách nhìn về ông Học là gì? Câu 4. Những tâm sự của Đích với Thứ vào một trong những phút chán nản nhất của đời y đã cho ta hiểu gì về người trí thức trước Cách mạng? Câu 5. Anh/Chị có cho rằng tiếp thu tri thức là điều quan trọng nhất trong thời đại hôm nay không? Vì sao? MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA MÔN: NGỮ VĂN LỚP 12 – THỜI GIAN LÀM BÀI: 90 PHÚT/1 ĐỀ (Theo cấu trúc đề minh họa của Bộ năm 2025) I. Hình thức: Tự luận II. Thời gian: 90 phút/1 đề III. Bảng năng lực và cấp độ tư duy TT Năng Mạch nội dung Số Cấp độ tư duy lực câu Nhận Thông Vận Tổng biết hiểu dụng % Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ câu câu câu 9
- I Năng Văn bản nghị luận 5 2 10% 2 20% 1 10% 40% lực (ngoài SGK) Đọc II Năng Viết đoạn văn nghị 1 5% 5% 10% 20% lực luận xã hội Viết Viết bài văn nghị 1 7.5% 10% 22.5% 40% luận so sánh, đánh giá hai đoạn trích/ tác phẩm văn học. Tỉ lệ 22.5% 35% 42.5% 100% Tổng 7 100% IV. Bản đặc tả yêu cầu các kĩ năng kiểm tra, đánh giá TT Kĩ Đơn vị Mức độ đánh giá Số câu hỏi theo mức độ nhận năng kiến thức thức/Kĩ Nhận Thông Vận dụng năng biết hiểu 1 Đọc Nhận biết: 2 câu 2 câu 1 hiểu Văn - Nhận biết được luận đề, câu bản luận điểm, lí lẽ và bằng nghị chứng tiêu biểu, độc đáo luận trong văn bản. - Nhận biết được một số thao tác nghị luận (chẳng hạn chứng minh, giải thích, bình luận, so sánh, phân tích hoặc bác bỏ). - Chỉ ra được được các biện pháp tu từ, từ ngữ, câu khẳng định, phủ định trong văn bản. - Nhận biết được cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản nghị luận. Thông hiểu: - Lí giải được mối liên hệ giữa nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, độc đáo trong văn bản. - Đánh giá được mức độ phù hợp giữa nội dung 10
- nghị luận với nhan đề của văn bản. - Tiếp cận và đánh giá được nội dung với tư duy phê phán; nhận biết được mục đích. - Phân tích và đánh giá được cách tác giả sử dụng một số thao tác nghị luận (chẳng hạn chứng minh, giải thích, bình luận, so sánh, phân tích hoặc bác bỏ) trong văn bản để đạt được mục đích. - Phân tích được các biện pháp tu từ, từ ngữ, câu khẳng định, phủ định trong văn bản nghị luận và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng các hình thức này. - Lí giải được cách lập luận và ngôn ngữ biểu cảm trong văn bản nghị luận để đạt được mục đích. Vận dụng: Rút ra bài học từ tác phẩm; thể hiện quan điểm đồng tình hoặc không đồng tình với những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Vận dụng cao: Thể hiện được quan điểm riêng trong tiếp nhận, đánh giá văn bản. 2 Viết Viết Nhận biết: 1* 1* 1* 1 đoạn - Giới thiệu được vấn đề văn nghị luận. nghị - Đảm bảo cấu trúc của luận xã một đoạn văn nghị luận; hội đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Thông hiểu: 11
- - Triển khai vấn đề nghị luận thành những luận điểm phù hợp. - Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. Vận dụng: - Nêu được những bài học rút ra từ vấn đề nghị luận. - Thể hiện được sự đồng tình/không đồng tình đối với thông điệp được gợi ra từ vấn đề nghị luận. Vận dụng cao: - Đánh giá được đặc sắc của vấn đề nghị luận. - Thể hiện rõ quan điểm, cá tính trong bài viết; sáng tạo trong cách diễn đạt. Viết 1* 1* 1* 1 Nhận biết: bài văn - Giới thiệu được ngắn nghị gọn, đầy đủ về hai đoạn luận so trích/ tác phẩm văn học. sánh, - Đảm bảo cấu trúc, bố đánh cục của một văn bản nghị giá hai luận. đoạn - Sử dụng các thao tác lập trích/ luận chính gồm so sánh, tác đánh giá trong bài viết. phẩm Thông hiểu: văn - Lựa chọn được những học. cơ sở, căn cứ hợp lí, khoa học để so sánh. - Phân tích, chỉ ra được điểm giống và khác nhau giữa hai đoạn trích/ tác phẩm văn học. - Lí giải được lí do dẫn tới sự giống và khác nhau giữa hai đoạn trích/ tác phẩm văn học. Vận dụng: 12
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của sự giống và khác nhau giữa hai văn bản theo quan điểm riêng của cá nhân. Vận dụng cao: - Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm, tự sự, để tăng sức thuyết phục cho bài viết. - Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng Việt lớp 12 để tăng tính thuyết phục, sức hấp dẫn cho bài viết. Ghi chú: Phần viết có 02 câu bao hàm cả 4 cấp độ. ĐỀ BÀI 1 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: Bạn có thể đi bất kỳ đâu bạn muốn, làm bất cứ việc gì bạn thích, trở thành bất cứ ai bạn ao ước... từ ngay vị trí hiện nay của bạn. Longfellow đã bắt đầu từ đó – Michelangelo và Licoln cũng vậy. RodSterling đã viết 40 truyện ngắn trước khi được chấp nhận một truyện. Disney đã bị một tờ báo đuổi việc vì cảm thấy ông không có tài năng. RichardByrd đâm máy bay trong hai lần đầu tiên ông lái một mình và rồi trở thành một trong những nhà thám hiểm vĩ đại nhất thế giới. Vì thế hãy biết ơn nghịch cảnh của bạn. Nhưng vì tương lai tốt đẹp hơn của chính mình, hãy cầu mong rằng nó sẽ hỗ trợ bạn chứ không phải chống lại bạn. Thế giới sẵn sàng tạm dừng lại và để bạn thương xót cho bản thân - cho tới khi cuối cùng bạn chết vì tan nát và cô đơn - nếu đó là điều bạn muốn. Nó cũng sẵn sàng tránh sang một bên để nhường đường cho bạn một khi bạn hạ quyết tâm rằng hoàn cảnh hiện nay chỉ là tạm thời, bạn sẽ lại đứng dậy, tiến lên và để lại dấu ấn của mình. Thế giới không có thời gian để quan tâm tới lựa chọn của bạn, vậy nên ít nhất là vì bản thân bạn, hãy lao mình vào cuộc phiêu lưu, với đôi mắt kiên định hướng về phía thành quả, chứ không chỉ tồn tại và thương hại bản thân. Từ giờ phút này, và vì những gì còn lại trong thế cân bằng của đời bạn, hãy cam kết với sự xuất sắc, hãy nhớ rằng thách thức của bạn là phải thành công. Rốt cuộc, bạn chỉ có một cuộc đời! Hãy làm điều gì đó thật huy hoàng. (Trích Bốn Mùa Cuộc Sống, Jim Rohn, Dịch giả Nguyễn Thanh Huyền, NXB Lao Động, Tái bản 2021) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Chỉ ra một biện pháp tu từ trong câu văn: “Bạn có thể đi bất kỳ đâu bạn muốn, làm bất cứ việc gì bạn thích, trở thành bất cứ ai bạn ao ước... từ ngay vị trí hiện nay của bạn.” 13
- Câu 2. Liệt kê những dẫn chứng được tác giả sử dụng trong đoạn trích. Câu 3. Việc lựa chọn sử dụng thao tác lập luận ở đoạn văn sau có ý nghĩa như thế nào trong việc thể hiện mục đích của tác giả? “Thế giới sẵn sàng tạm dừng lại và để bạn thương xót cho bản thân - cho tới khi cuối cùng bạn chết vì tan nát và cô đơn - nếu đó là điều bạn muốn. Nó cũng sẵn sàng tránh sang một bên để nhường đường cho bạn một khi bạn hạ quyết tâm rằng hoàn cảnh hiện nay chỉ là tạm thời, bạn sẽ lại đứng dậy, tiến lên và để lại dấu ấn của mình.” Câu 4. Phân tích hiệu quả của việc kết hợp ý phủ định và ý khẳng định trong câu văn: “Thế giới không có thời gian để quan tâm tới lựa chọn của bạn, vậy nên ít nhất là vì bản thân bạn, hãy lao mình vào cuộc phiêu lưu, với đôi mắt kiên định hướng về phía thành quả, chứ không chỉ tồn tại và thương hại bản thân.” Câu 5. Anh/Chị có đồng tình với quan điểm của tác giả: “Rốt cuộc, bạn chỉ có một cuộc đời! Hãy làm điều gì đó thật huy hoàng.” không? Tại sao? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết của thái độ trân trọng khoảnh khắc thực tại. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai văn bản truyện dưới đây: Sáng hôm sau, cúng cơm sáng xong xuôi, cô Thảo lại sắm sửa đi qua làng Mỹ- Lý. Cô gọi mấy đứa em đến gần rồi cho mỗi đứa năm xu. Trong nhà ai cũng khen cô rộng rãi và biết thương em, nên cô vui sướng lắm. Đang lúc cao hứng cô còn hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Nhưng chính cô cũng không biết sẽ lấy đâu ra hai cặp quần áo ấy. Chỉ trong nháy mắt cô Thảo đã phân phát tất cả số tiền cô đã dành dụm trong một năm. Lúc sắp sửa lên đường, bà Vạn cho cô nửa con gà và một gói xôi để về nhà chồng. Lúc ra đi cô cảm động quá, đứng bên mẹ và mấy em khóc nức nở. Về nhà chồng, cô Thảo lại làm việc từ mai đến chiều, tối tăm cả mày mặt. Lúc nào cô cũng nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn. Rồi chiều chiều gặp những lúc nhàn rỗi, cô lại ra đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-Lão. Nhưng làng Quận-Lão ẩn sau đám tre xanh đã kéo một gạch đen dài trên ven đồi xa thẳm. (Trích Quê mẹ, Thanh Tịnh, In trong tập Quê mẹ, NXB Kim Đồng, 2006) Tâm lần ruột tượng lấy ra gói bạc giấy cuộn tròn. Số tiền nàng vừa lấy định trang trải các công nợ và lo sưu thuế cho Bài. Nhưng thấy vẻ mặt vui mừng của em, nàng quên mất cả những nỗi lo sợ đang chờ nàng. Lúc Tâm ra về, trời đã tối. Nàng vội vã bước mau để về cho con bú. Sương mù xuống phủ cả cánh đồng, và gió lạnh nổi lên: Tâm thu vạt áo lại cho đỡ rét, lần theo bờ cỏ đi. Lòng nàng mệt nhọc và e ngại: lấy đâu mà bù vào chỗ tiền đưa cho em? Tâm nhớ lại những lời dằn của mẹ chồng và những câu giận dữ của Bài mỗi khi hỏi nàng không có tiền. Nàng nghĩ đến những ngày buôn bán được, ngày không, Tâm dấn bước. Cái vòng đen của rặng tre làng Bàng bỗng vụt hiện lên trước mặt, tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già toàn khó nhọc và lo sợ, ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau vào trong ngõ tối. 14
- (Trích Cô hàng xén, Thạch Lam, In trong tập Truyện ngắn Thạch Lam, NXB Văn học, 2003) Chú thích: Quê mẹ xoay quanh nhân vật Thảo, người con gái đi lấy chồng xa, điều kiện nhà chồng không dư dả nên thật lâu cô mới được về quê mẹ ăn giỗ. Để cha mẹ yên lòng và được vẻ mặt cùng bà con họ hàng, Thảo phải tỏ ra có điều kiện, phóng khoáng. Nhưng chính cô cũng mơ hồ nhận ra những vất vả phía trước. Đoạn trích đi sâu diễn tả những tâm tư của Thảo khi nghĩ về chặng đời trước mắt. Cô hàng xén là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Cốt truyện xoay quanh cuộc sống đời thường của nhân vật cô hàng xén tên Tâm với biết bao lo toan khó nhọc từ khi sinh ra đến khi lấy chồng. Trích đoạn giúp ta hiểu rõ nét hơn về tính cách, tâm hồn cô hàng xén Tâm. GỢI Ý Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 1 Một biện pháp tu từ trong câu văn: BPTT điệp/ BPTT liệt kê. 0,5 2 Những dẫn chứng được tác giả sử dụng trong đoạn trích: Longfellow; 0,5 Michelangelo; Licoln; RodSterling; Disney; RichardByrd. 3 - Thao tác lập luận được sử dụng ở đoạn văn: So sánh tương phản (Một 1,0 bên là lối sống tiêu cực – một bên là lối sống chủ động, tích cực) - Việc lựa chọn sử dụng thao tác lập luận so sánh tương phản ở đoạn văn giúp nhà văn thể hiện sâu sắc mục đích lập luận: Thuyết phục người đọc từ chối lối sống nhạt tẻ, vươn tới lối sống mạnh mẽ, tự tin, dám khẳng định mình,... Hướng dẫn chấm: - HS trả lời như đáp án hoặc tương đương: 1,0 điểm. - Trả lời chạm ý hoặc chưa rõ ràng: 0,25 – 0,75 điểm - Trả lời sai/ Không trả lời: 0 điểm 4 - Ý phủ định: 1,0 + Thế giới không có thời gian để quan tâm tới lựa chọn của bạn: Chỉ điều kiện khách quan bên ngoài. + Không chỉ tồn tại và thương hại bản thân: Chỉ đặc điểm bên trong của chính bạn. - Ý khẳng định: hãy lao mình vào cuộc phiêu lưu, với đôi mắt kiên định hướng về phía thành quả - Sự kết hợp giữa ý phủ định và ý khẳng định trong câu văn có tác dụng: + Nhấn mạnh lời thôi thúc mỗi chúng ta hãy chủ động dấn thân sống cuộc đời chính mình, từ đó thuyết phục mỗi chúng ta quyết đoán lựa chọn lối sống tích cực. + Tăng sức thuyết phục, hiệu quả cho lập luận, làm cho câu văn trở nên sinh động, gây ấn tượng, tạo chú ý đối với người đọc,... 5 HS bày tỏ quan điểm cá nhân, lí giải hợp lí, thuyết phục, chẳng hạn: 1,0 - Đồng tình: Mỗi người chỉ sống một cuộc đời duy nhất, và cuộc đời đó là hữu hạn, không lặp lại, bởi thế mỗi chúng ta cần cố gắng để lại dấu ấn trong cuộc đời bằng cách tạo ra những phút giây vinh quang, sáng chói nhất. - Không đồng tình: Hạnh phúc có khi đến từ những điều giản dị, hào quang có khi tỏa ra từ những điều nhỏ bé đời thường và ta cũng có thể tìm được ý nghĩa đích thực của cuộc sống từ những thứ ta không ngờ. 15
- Bởi thế không nhất thiết phải bằng mọi giá tạo ra những nét “huy hoàng”, bởi có thể khi đó ta đang giả tạo với chính mình. - Vừa đồng tình vừa không đồng tình: Kết hợp lí lẽ của cả 2 ý kiến trên II LÀM VĂN 6,0 điểm 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết của thái độ trân trọng khoảnh khắc thực tại. 2,0 a. Đảm bảo hình thức, dung lượng của đoạn văn: Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) 0,25 của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bàn về sự cần thiết của thái độ trân 0,25 trọng khoảnh khắc thực tại. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: *Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý: - Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận: Quá khứ đã đi qua, tương lai thì chưa đến. Làm sao để sống thật đủ đầy và ý nghĩa? Có phải chăng, cần thiết một thái độ trân trọng khoảnh khắc thực tại? - Thân đoạn: Thể hiện quan điểm của người viết về sự cần thiết của thái độ trân trọng khoảnh khắc thực tại. Có thể theo một số gợi ý sau: + Trân trọng khoảnh khắc thực tại giúp chúng ta thoát ly khỏi áp lực của quá khứ và lo lắng về tương lai; tập trung vào khoảnh khắc hiện tại, chúng ta có thể giải phóng tâm trí khỏi những ưu phiền và nỗi lo về những gì đã qua hoặc sắp xảy ra. 0,5 + Trân trọng khoảnh khắc thực tại là cơ hội để kết nối với những người xung quanh. Thực tại là thời gian có thực, nơi mà ta có thể cảm nhận bằng tất cả các giác quan, nơi ta được sống thực với tất cả ý nghĩa của sự sống trong mối giao hòa cùng thiên nhiên, tạo vật, con người. + Trân trọng khoảnh khắc thực tại là thời điểm để xây dựng và thực hiện những ước mơ. Vậy nên để có thể biến những giấc mơ thành hiện thực ta hãy sống trọn vẹn từng khoảnh khắc thực tại, mọi hành động, mọi quyết định hôm nay đều tạo nên những dấu ấn lớn trong tương lai. - Kết đoạn: Khẳng định lại quan điểm đã trình bày: Thái độ trân trọng khoảnh khắc thực tại là cần thiết, tất yếu có ý nghĩa để mỗi chúng ta sống trọn vẹn, đủ đầy, hạnh phúc, yêu thương và chia sẻ,... * Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của đoạn văn. d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. 0,5 - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Diễn đạt: Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong 0,25 đoạn văn. 16
- e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn 0,25 đạt mới mẻ. 2 Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai văn bản truyện (Trích 4,0 Quê mẹ của Thanh Tịnh và Cô hàng xén củaThạch Lam). a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài 0,25 Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai đoạn trích văn học. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận 0,5 So sánh, đánh giá hai văn bản truyện (Trích Quê mẹ của Thanh Tịnh và Cô hàng xén củaThạch Lam). c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận: 1,0 - Xác định được các ý chính của bài viết - Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí ba phần của bài văn nghị luận. * Mở bài: Giới thiệu hai đoạn trích trong truyện ngắn Quê mẹ của Thanh Tịnh và Cô hàng xén của Thạch Lam. Có những mảnh đời lấm láp sau rặng tre, gốc lúa nhưng lại lấp lánh trong dòng chữ, câu văn, Có những Thảo, những Tâm hôm sớm đi về buổi chợ sáng, chợ chiều, buổi đò đông, đò vắng, mà tấm lòng thơm thảo vẫn bao phủ lên những miền quê mẹ, những mái gianh nghèo. Thanh Tịnh và Thạch Lam đã dành hết những yêu thương cho những người con gái ấy. Trong Quê mẹ và Cô hàng xén chúng ta đã gặp những mảnh đời thực, những yêu thương chân thành nhưng chúng ta cũng bị hấp dẫn bởi những tài năng văn chương hết sức độc đáo. * Thân bài: - Thông tin chung về từng tác phẩm: hoàn cảnh ra đời, đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, vị trí của tác phẩm trong đời sống văn học,... + Quê mẹ xoay quanh nhân vật Thảo, người con gái đi lấy chồng xa, điều kiện nhà chồng không dư dả nên thật lâu cô mới được về quê mẹ ăn giỗ. Để cha mẹ yên lòng và được vẻ mặt cùng bà con họ hàng, Thảo phải tỏ ra có điều kiện, phóng khoáng. Nhưng chính cô cũng mơ hồ nhận ra những vất vả phía trước. Đoạn trích đi sâu diễn tả những tâm tư của Thảo khi nghĩ về chặng đời trước mắt. + Cô hàng xén là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Thạch Lam. Cốt truyện xoay quanh cuộc sống đời thường của nhân vật cô hàng xén tên Tâm với biết bao lo toan khó nhọc từ khi sinh ra đến khi lấy chồng. Trích đoạn trên giúp ta hiểu rõ nét hơn về tính cách, tâm hồn cô hàng xén Tâm. - Những điểm tương đồng, khác biệt giữa hai đoạn trích truyện và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy + Những điểm tương đồng giữa hai đoạn trích: ++ Cả hai đoạn trích đều hướng tới số phận cũng như vẻ đẹp tâm hồn những người phụ nữ Việt Nam trước Cách mạng. Họ vất vả, nghèo túng, nhưng phía sau cái lam lũ, cần cù lại là tấm lòng nhân hậu, vị tha, sẵn sàng hi sinh cho gia đình và người thân. ++ Khai thác hiện thực để gửi vào đó tấm lòng nhân đạo là cách làm giống nhau ở cả Thạch Lam và Thanh Tịnh. ++ Cùng chọn kiểu văn ít gay cấn nhưng lại đậm chất thơ dịu dàng cũng là nét đẹp giống nhau ở hai văn bản. ++ Đều chọn ngôi kể là ngôi thứ ba, điểm nhìn chủ yếu đặt vào nhân vật trung tâm - những người phụ nữ để thể hiện sự đồng cảm, thấu hiểu chân thành của các nhà văn đối với nhân vật của mình. 17
- + Những điểm khác biệt và điều kiện làm nên sự khác biệt ấy: ++ Quê mẹ: +++ Nghệ thuật kể chuyện: Câu chuyện trùng với cốt truyện, các sự việc diễn ra theo trình tự thời gian -> Giúp người đọc hình dung ra sự nhàm tẻ tất yếu trong cuộc đời nhân vật Thảo. Truyện không có những biến cố, xung đột gay cấn, mạch truyện tiếp diễn theo tâm tư, lời nói, hành động của nhân vật. ++++ Cách xây dựng nhân vật: +++++ Qua hành động: Trước khi rời quê mẹ để trở về nhà chồng: sắm sửa đi qua làng Mỹ-Lý; gọi mấy đứa em đến gần; cho mỗi đứa năm xu; hứa sẽ gửi cho mẹ hai cặp quần áo mới để mặc Tết nữa. Về nhà chồng: làm việc từ mai đến chiều; đứng cửa sau vơ vẩn nhìn về làng Quận-Lão. +++++ Qua tâm trạng: Được khen rộng rãi và biết thương em, cô vui sướng lắm (cao hứng, cảm động quá, khóc nức nở, nhớ đến mẹ nghèo, đến em thơ, nhưng nhớ thì lòng cô lại bùi ngùi, trí cô lại bận rộn). Thương em, thương cha mẹ nên phóng khoáng, rộng rãi, dù bản thân còn nghèo nàn và biết trước mình sẽ nợ nần, vất vả. Cuộc sống lúc nào cũng tối tăm mặt mũi nhưng không lúc nào nguôi thương cha, nhớ mẹ và nghĩ về các em. Tuy vậy, có ngóng trông da diết thì chặng đường về quê mẹ cũng rất tăm tối ++++ Nghệ thuật ngôn từ: Từ ngữ giản dị, gần gũi, tính biểu cảm cao. Phương thức tự sự được sự bổ trợ của yếu tố biểu cảm nên giọng văn tha thiết, lắng sâu, chân thành. ++ Cô hàng xén: +++ Nghệ thuật kể chuyện: Cũng là ngôi thứ ba nhưng nhà văn Thạch Lam chọn điểm nhìn từ bên trong để dễ dàng bộc lộ tất cả tâm tư nhân vật Tâm. Diễn tiến câu chuyện đi theo những suy tư của nhân vật Tâm về cuộc sống hàng ngày, về cái nhìn thấu suốt cuộc đời chính mình. +++ Cách xây dựng nhân vật: ++++ Nhân vật hiện lên qua lời nói, cử chỉ, hành động (hành động không có xung đột), qua những suy tư của Tâm, qua những đánh giá của người trần thuật. Tâm phải sống cuộc sống đầy vất vả và bất hạnh: Công việc không ngừng nghỉ, gia cảnh đôi bên đều nghèo khó, con còn nhỏ, mẹ chồng đay nghiến, chồng đánh đập và đòi hỏi tiền bạc. Ý nghĩ của Tâm ở phần cuối văn bản như dự cảm cho một số phận chịu nhiều vất vả, thiệt thòi, chịu nhiều đắng cay nhọc nhằn, không lối thoát. ++++ Vẻ đẹp nhân vật Tâm: Thương cha mẹ, thương em, đi sớm về hôm để làm việc, chịu thương, chịu khó, giàu đức hi sinh, tất bật chu đáo bên chồng, bên đẻ. +++ Nghệ thuật ngôn từ, bút pháp, hình ảnh, chi tiết, câu văn, giọng điệu: ++++ Yếu tố hiện thực hòa quyện với lãng mạn trữ tình. ++++ Những câu văn giàu chất thơ, Thạch Lam khai thác thế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc mong manh, mơ hồ trong cuộc sống thường ngày. Những biến thái tinh vi của cảnh vật sóng bước cùng những chuyển biến tâm lý đầy tinh tế trong nội tâm nhân vật. ++++ Xây dựng những chi tiết nhỏ nhưng làm nên những giá trị lớn. ++++ Ngôn từ bình dị và tinh tế. ++++ Giọng điệu điềm đạm thâm trầm sâu sắc nhưng chứa đựng bao tình cảm yêu mến. ++++ Câu văn giàu hình ảnh, gợi cảm, trong sáng,... 18
- - Đánh giá chung về sự tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm truyện và khẳng định giá trị độc đáo của mỗi tác phẩm: + Cả hai nhà văn đều cúi xuống những số phận nghèo khổ, bé mọn, yếu đuối trong xã hội để trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn của họ, để khẳng định: dù có khổ đau, thiệt thòi đến mấy, người phụ nữ Việt Nam nhỏ bé vẫn luôn giữ gìn phẩm chất cao đẹp, luôn bao dung, nhân hậu, vị tha. + Dù cùng viết về người phụ xưa nhưng Thạch Lam dẫn dắt người đọc vào không phải bằng tình tiết, bằng những xung đột gay cấn mà bằng “ hành trình cảm giác” của trái tim; trong khi đó, Thanh Tịnh lại miệt mài theo dòng thời gian để chúng ta hình dung ra hành trình cuộc sống của nhân vật. + Cả hai đoạn trích đều hấp dẫn nhưng mỗi đoạn mang sức cuốn hút riêng, khẳng định nét độc đáo riêng của mỗi phong cách. * Kết bài: Nêu ý nghĩa của việc đánh giá các tác phẩm truyện khi đặt chúng trong tương quan so sánh. Tâm và Thảo, những cô gái ấy không phải những con người của một thời, họ là những con người của mọi thời. Những yêu thương, những hi sinh, những lo toan vất vả, tất cả những phẩm chất đó đã tạc lên bức tượng đài người phụ nữ Việt Nam để chúng ta mãi mãi trân quý, ngưỡng mộ và tôn vinh. d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau: 1,5 - Đảm bảo cấu trúc: Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề. - Triển khai ít nhất được hai luận điểm để làm rõ vấn đề nghị luận. - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận. - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng. đ. Chính tả, ngữ pháp 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. e. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 10,0 ĐỀ BÀI 2 I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản sau: John Wooden đã từng nói: “Đừng bao giờ để những gì bạn không thể làm ngăn bạn làm những gì bạn có thể làm.” Sự nhàn rỗi và lười biếng lâu ngày sẽ làm tê liệt khả năng sáng tạo của bạn. Đầu óc không vững vàng, lúc thích cái này, lúc thích cái kia thì chẳng thể làm được gì nên hồn cả. Đừng chờ đợi những điều kiện lý tưởng để hành động đúng đắn, hãy sử dụng những điều kiện bình thường. Chúng ta không cần thêm sức mạnh, khả năng hay những cơ hội to lớn hơn. Điều mà chúng ta thực sự cần là sử dụng những gì chúng ta có tại nơi mà chúng ta đang ở. Sự lôi cuốn của những thứ xa xôi và thách thức chỉ là lừa dối mà thôi. Cơ hội tuyệt vời thực sự nằm ở chính nơi bạn đang đứng John Burroughs 19
- Những gì bạn có thể làm bây giờ là điều duy nhất có thể ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Sự vĩ đại thực sự cốt ở việc bạn có thể làm tốt những điều nhỏ bé. Đừng cằn nhằn vì bạn không có thứ mà bạn muốn. “Chúng ta phải làm điều gì đó” là một điệp khúc mà ai cũng có thể nói được. “Bắt đầu đi” là lời chẳng mấy ai đáp lại. Walter Dwight Bạn có thể làm tất cả những gì mình muốn. Bắt đầu từ những gì bạn có và phát triển lên. Con người chẳng thể nào hạnh phúc cho đến khi họ học cách sử dụng những gì mình có và dừng lo lắng về những gì mình không có. Hạnh phúc không bao giờ đến với những người không biết trân trọng những gì mình có sẵn. Hầu hết mọi người mắc phải sai lầm nghiêm trọng từ việc tìm kiếm những thứ giá trị ở những nơi quá xa xôi trong khi chúng nằm ngay trong tầm tay của mình. Hãy tận dụng tối đa những điều tốt đẹp mà bạn đang có, dù cho đó là gì. (Trích Bắt đầu bằng những gì bạn có, thay vì những gì bạn không có, Sinh ra là một bản thể, đừng chết như một bản sao, John Mason, NXB Thời Đại, 2018) Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5 (trình bày ngắn gọn): Câu 1. Chỉ ra thao tác lập luận chủ yếu trong đoạn văn: John Wooden đã từng nói: “Đừng bao giờ để những gì bạn không thể làm ngăn bạn làm những gì bạn có thể làm.” Sự nhàn rỗi và lười biếng lâu ngày sẽ làm tê liệt khả năng sáng tạo của bạn. Đầu óc không vững vàng, lúc thích cái này, lúc thích cái kia thì chẳng thể làm được gì nên hồn cả. Đừng chờ đợi những điều kiện lý tưởng để hành động đúng đắn, hãy sử dụng những điều kiện bình thường. Chúng ta không cần thêm sức mạnh, khả năng hay những cơ hội to lớn hơn. Điều mà chúng ta thực sự cần là sử dụng những gì chúng ta có tại nơi mà chúng ta đang ở. Câu 2. Liệt kê những trích dẫn được tác giả sử dụng trong văn bản. Câu 3. Việc chọn xuất phát ngay tại nơi ta “đang đứng” có ý nghĩa như thế nào trong việc chứng minh “bản thể”? Câu 4. Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng câu khẳng định, phủ định trong đoạn văn: Những gì bạn có thể làm bây giờ là điều duy nhất có thể ảnh hưởng đến tương lai của bạn. Sự vĩ đại thực sự cốt ở việc bạn có thể làm tốt những điều nhỏ bé. Đừng cằn nhằn vì bạn không có thứ mà bạn muốn. Câu 5. Từ ý hiểu về câu nói: “Chúng ta phải làm điều gì đó” là một điệp khúc mà ai cũng có thể nói được. “Bắt đầu đi” là lời chẳng mấy ai đáp lại”, anh/chị rút ra bài học gì cho bản thân? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) bàn về sự cần thiết của tinh thần sẵn sàng vượt ra khỏi vùng an toàn. Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai văn bản truyện dưới đây: Mấy phút sau, đứa bé trở về, ông già mù cảm thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với giọng run run: - Ông ơi, có người lên đó ông chạy đi. Thế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ, qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh giá. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương 20



