Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 11

docx 19 trang baigiangchuan 09/03/2026 90
Bạn đang xem tài liệu "Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 11", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên

Tài liệu đính kèm:

  • docxde_cuong_on_tap_hoc_ki_i_ngu_van_11.docx

Nội dung text: Đề cương ôn tập học kì I Ngữ văn 11

  1. ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ 1 ĐỀ THAM KHẢO SỐ 2 Môn: Ngữ văn lớp 11 (Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian phát đề) I. ĐỌC HIỂU (5.0 điểm) Đọc văn bản sau XUÂN KHÔNG MÙA (Xuân Diệu) Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ Chim trên cành há mỏ hót ra thơ Xuân là lúc gió về không định trước. Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược Mây bay đi để hở một khung trời Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi
  2. Như được nắm một bàn tay son trẻ... Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé; Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa; Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng. Nếu lá úa trên cành bàng không rụng, Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường; Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương, Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa? * Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa, Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta Khi những em gặp gỡ giữa đường qua Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ. Ấy là máu báo tin lòng sắp nở Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn. Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ? Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
  3. Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay... Ấy là thư hồi hộp đón trong tay; Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng... Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng, Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa? Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa, Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng. 1939 Nguồn (Thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2019) Ngô Xuân Diệu (1916-1985) là nhà thơ, nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn và phê bình văn học người Việt Nam. Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu trong phong trào thơ Mới đầu thế kỷ XX. Ông được đánh giá giá là “nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới”. Xuân Diệu nổi tiếng với tập Thơ Thơ (1938) thể hiện tiếng nói riêng biệt chịu ảnh hưởng văn hóa phương Tây, đặc biệt là chủ nghĩa tượng trưng Pháp. Thực hiện các yêu cầu bên dưới:
  4. Câu 1: Xác định dấu hiệu để nhận biết thể thơ trong bài thơ trên. Câu 2: Nhân vật trữ tình trong bài thơ là ai? Câu 3: Hai dòng thơ sau diễn tả điều gì? Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta. Câu 4: Tác giả dùng những câu thơ nào để diễn tả Xuân không mùa trong lòng mình? Phân tích những câu thơ mà em cho là đặc sắc? Câu 5: Bài thơ thể hiện giá trị nhân sinh nào? Em có đồng tình với quan điểm đó không? Câu 6: Bài thơ giúp em cảm nhận gì về cuộc sống? mối quan hệ giữa con người với con người, với thiên nhiên? II. VIẾT (5.0 điểm): Câu 2 (4,0 điểm) Trước những áp lực của cuộc sống hiện đại, nhiều bạn trẻ lựa chọn sống trong vùng an toàn nhưng cũng có nhiều bạn bước ra khỏi vùng an toàn để khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Là một người trẻ, anh/chị lựa chọn cách sống nào? Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) lí giải cho sự lựa chọn đó.
  5. ĐÁP ÁN THAM KHẢO Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 6.0 Thể thơ tám chữ vì tất cả các dòng thơ 1 0.5 trong bài thơ đều là tám chữ 2 Nhân vật trữ tình trong bài thơ là Tôi 0.5 Hai dòng thơ Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa 3 Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta. 1.0 diễn tả: sự tương hợp kỳ diệu giữa vũ trụ và lòng người Những câu thơ diễn tả Xuân không mùa trong lòng tác giả. Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều 4 Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi 1.0 Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa? Hs lựa chọn câu thơ để phân tích đặc sắc (Gợi ý: Phân tích phép tu từ, từ ngữ
  6. đặc sắc, cảm xúc của thi sĩ, cảm nhận của cá nhân) Bài thơ thể hiện giá trị nhân sinh + Sống lạc quan, yêu đời, sống hết mình và giao hòa cùng vũ trụ, thiên nhiên để cảm nhận những biến chuyển, những tín hiệu sống diệu kỳ 5 + Sống tích cực lạc quan để cảm nhận 1.0 mùa xuân lai láng trong đất trời vạn vật để có xuân không mùa, xuân lai láng trong lòng mình. Hs đưa ra quan điểm của mình. Đồng tình hay không đồng tình và lý giải. Bài thơ giúp ta cảm nhận về cuộc sống, mối quan hệ giữa con người với con người, với thiên nhiên. 6 - Xuân không phải chỉ ở mùa xuân ba 0.5 tháng, mà Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ, chim hót ra thơ, gió về không định trước.
  7. - Xuân còn ở giữa mùa đông khi nắng hé, giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa, giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa. - Xuân còn là những cảm xúc trong lòng người yêu nước, yêu đời, yêu người. Bài thơ là lời ca ngợi sự sống và sự vĩnh viễn của xuân và tình trong con người. II VIẾT 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận Mở bài nêu được vấn đề, Thân bài 0.25 triển khai được vấn đề, Kết bài khái quát được vấn đề b. Xác định đúng yêu cầu của đề. Từ hiểu biết về văn bản đọc hiểu Xuân không mùa (Xuân Diệu) em 0.25 hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân.
  8. c. Viết được bài bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu sau: - Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng, trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: 1. Mở bài: - Giới thiệu được vấn đề nghị luận một cách rõ ràng, chính xác, hấp dẫn. 2. Thân bài: 2.5 * Giải thích: Vùng an toàn được định nghĩa là một trạng thái tâm lý thỏa mãn về mặt cảm xúc khiến cho bản thân người đó cảm thấy thoải mái, quen thuộc với môi trường hiện tại mà không muốn đi ra khỏi môi trường đó. *Lựa chọn cách sống và lí giải: Học sinh có thể chọn một trong 2 hướng sau hoặc kết hợp cả 2, song cần đảm bảo tính thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
  9. - Chọn sống trong vùng an toàn vì: + Mỗi người có một năng lực, sở trường nhất định. Khi ở trong môi trường thuận lợi với mình, họ sẽ phát huy được hết năng lực để khẳng định bản thân + Mang lại cảm giác bảo đảm và yên tâm, giúp cá nhân ổn định cuộc sống. - Chọn cách sống bước ra khỏi vùng an toàn vì: + Việc dũng cảm dấn bước, rời khỏi vùng an toàn của mình sẽ mang lại cho người trẻ nhiều cơ hội mới trong công việc và cuộc sống. + Khám phá được những năng lực mới của bản thân + Mang đến nhiều mối quan hệ mới, mở mang hiểu biết về thế giới 3. Kết bài: - Khái quát vấn đề nghị luận d. Chính tả, từ ngữ, ngữ pháp Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp 0.5 Tiếng Việt.
  10. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt 0.5 mới mẻ. ĐỀ THAM KHẢO SỐ 3 I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm) Đọc văn bản sau: Bài học tuổi thơ Thằng con tôi 11 tuổi, học lớp sáu. Qua mùa thi chuyển cấp, nhân một buổi chiều cho con đi chơi mát, nó kể... Đang hỏi nó về chuyện thi cử, nó chợt hỏi lại tôi: - Ba! Có bao giờ thấy có một bài luận văn nào điểm không không ba? Con số không cô cho bự bằng quả trứng gà. Không phải cho bên lề, mà một vòng tròn giữa trang giấy. Thiệt đó ba. Chuyện ngay trong lớp của con, chứ không phải con nghe kể đâu. Tôi chưa kịp hỏi, nó tiếp: - Còn thua ba nữa đó, ba. Iít nhứt ba cũng được nửa điểm. Còn thằng bạn của con, con số không bự như quả trứng. Thằng con tôi ngửa mặt cười, có lẽ nó thấy thú vị vì thời học trò của ba nó ít nhứt cũng hơn được một đứa.
  11. Số là cách đây vài năm, có một nhà xuất bản gởi đến các nhà văn nhà thơ quen biết trong cả nước một câu hỏi, tôi còn nhớ đại ý, nhà văn nhà thơ thời thơ ấu học văn như thế nào, nhà xuất bản in thành sách "Nhà văn học văn". Đọc qua, nghe các nhà văn nhà thơ kể, tất nhiên là mỗi người có mỗi cuộc đời, mỗi người mỗi giọng văn, nhìn chung thì người nào, lúc còn đi học, cũng có khiếu văn, giỏi văn. Nếu không thì lấy gì làm cơ sở để sau này trở thành nhà văn? Rất lô-gích và rất là tự nhiên vậy. Duy chỉ có bài của tôi hơi khác, có gì như ngược lại. Tôi kể, hồi tôi học ở trường trung học Nguyễn Văn Tố (1948 - 1950), tôi là một học sinh trung bình, về môn văn không đến nỗi liệt vào loại kém, nhưng không có gì tỏ ra là người có khiếu văn chương. Và có một lần, bài luận văn của tôi chỉ được có một điểm trên hai mươi (1/20). Đó là kỷ niệm không quên trong đời học sinh của tôi, môn văn. Khi con tôi đọc bài văn đó, con tôi hỏi: - Sao bây giờ ba là nhà văn? Và bạn bè cũng hỏi như vậy. Tôi cũng đã tự lý giải về mình, và lời giải cũng đã in vào sách rồi, xin không nhắc lại. Tôi hỏi con tôi: - Luận văn cô cho khó lắm hay sao mà bạn con bị không điểm. - Luận văn cô cho "Trò hãy tả buổi làm việc ban đêm của bố".
  12. - Con được mấy điểm? - Con được sáu điểm. - Con tả ba như thế nào? - Thì ba làm việc làm sao thì con tả vậy. - Mấy đứa khác, bạn của con? Thằng con tôi như chợt nhớ, nó liến thoắng: - A! Có một thằng ba nó không hề làm việc ban đêm mà nó cũng được sáu điểm đó ba. - Đêm ba nó làm gì? - Nó nói, đêm ba nó toàn đi nhậu. - Nó tả ba nó đi nhậu à? - Dạ không phải. Ba nó làm việc ban ngày nhưng khi nó tả thì nó tả ba nó làm việc ban đêm, ba hiểu chưa? - Còn thằng bạn bị không điểm, nó tả như thế nào? - Nó không tả không viết gì hết, nó nộp giấy trắng cho cô. - Sao vậy? Hôm trả lại bài cho lớp, cô gọi nó lên, cô giận lắm, ba. Cô hét: "Sao trò không làm bài". Nó cúi đầu làm thinh. Cô lại hét to hơn: "Hả?". Nó cũng làm thinh. Tụi con ngồi dưới, đứa nào cũng run. - Nó là học trò loại " cá biệt" à? - Không phải đâu ba, học trò tiên tiến đó ba.
  13. - Sao nữa? Nó trả lời cô giáo như thế nào? Nó cứ làm thinh. Tức quá, cô mới quất cây thước xuống bàn cái chát: "Sao trò không làm bài?" Tới lúc đó nó mới nói: "Thưa cô, con không có ba". Nghe nó nói, hai con mắt của cô con mở tròn như hai cái tô. Cô đứng sững như trời trồng vậy ba! Tôi bỗng nhập vai là cô giáo. Tôi thấy mình ngã qụy xuống trước đứa học trò không có ba. Sau đó cô và cả lớp mới được biết, em mồ côi cha khi vừa mới lọt lòng mẹ. Ba em hy sinh trên chiến trường biên giới. Từ ấy, má em ở vậy, tần tảo nuôi con... Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má. Chuyện của đứa học trò bị bài văn không điểm đã để lại trong tôi một nỗi đau. Em bị không điểm, nhưng với tôi, người viết văn là một bài học, bài học trung thực. Sáng tạo không đồng nghĩa với bịa đặt. Giữa những dòng chữ bịa đặt và trang giấy trắng, tôi xin để trang giấy trắng trung thực trên bàn viết. ( Mùa thu, 1990- Truyện ngắn Nguyễn Quang Sáng) Trả lời câu hỏi: Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?
  14. Câu 2. Xác định ngôi kể của văn bản? Câu 3. Câu văn Có người hỏi em: "Sao mày không tả ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc gì của nhân vật? Câu 4. Cậu bé học trò bị bài văn không điểm hiện lên như thế nào trong tác phẩm Câu 5. Nhận xét tình cảm, thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị bài văn không điểm? Câu 6. anh/chị rút ra được bài học gì từ câu chuyện trên? II. Làm văn (5,0 điểm) Anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 500 chữ) phân tích nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm truyện “Bài học tuổi thơ” của Nguyễn Quang Sáng. Đáp án và hướng dẫn chấm Ph Câu Nội dung Điể ần m I ĐỌC HIỂU 5,0 1 Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện ngắn 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,5 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm.
  15. 2 Xác định ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ nhất 0,5 Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án 0,5 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. 3 Câu văn Có người hỏi em: "Sao mày không tả 1,0 ba của đứa khác". Em không đáp, cúi đầu, hai giọt nước mắt chảy dài xuống đôi má thể hiện cảm xúc của nhân vật: - Buồn, xót xa, tự hào Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 1,0 điểm - Học sinh trả lời đúng 02 ý trong đáp án: 0,75 điểm - Học sinh trả lời đúng 01 ý trong đáp án: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không đúng như đáp án: 0,0 điểm. 4 Cậu học trò trong bài văn hiện lên: 0,5 - Hoàn cảnh đáng thương. - Trung thực, dũng cảm. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh trả lời đúng 1 trong 2 ý: 0,25 điểm. - Học sinh trả lời không đúng: 0,0 điểm.
  16. 5 Thái độ của tác giả dành cho cậu bé học trò bị 0,5 bài văn không điểm: Xót thương, ngưỡng mộ và khâm phục. + Xót thương cho nỗi đau mất cha, sống thiếu vắng tình cha, ông xót thương và thấu hiểu niềm khao khát có cha của cậu bé + Ngưỡng mộ, khâm phục sự dũng cảm và tấm lòng trung thực sáng trong của cậu bé. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời tương đương như đáp án: 0,5 điểm - Học sinh trả lời đúng 1 ý: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. 6 Bài học rút ra sau khi đọc văn bản: 0,5 - HS có thể rút ra những bài học khác nhau: Bài học về lòng trung thực trong cuộc sống , bài học về sự quan tâm thấu hiểu . - Có lí giải phù hợp Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lời được 01 bài học hợp lí: 0,5 điểm
  17. - Học sinh trả lời có nội dung phù hợp nhưng diễn đạt chưa tốt: 0,25 điểm - Học sinh trả lời không thuyết phục hoặc không trả lời: 0,0 điểm *Lưu ý: Học sinh có thể trả lời khác đáp án nhưng thuyết phục, diễn đạt nhiều cách miễn hợp lí là chấp nhận được. II VIẾT 5,0 a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận 0,5 Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài khái quát được vấn đề b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân 0,5 tích tác phẩm truyện “Bài học tuổi thơ” – Phân tích nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của tác phẩm - Học sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5 điểm. - Học sinh xác định chưa đúng vấn đề cần nghị luận: 0,0 điểm. c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận 3.0 điểm HS có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần phân tích, đánh giá về chủ đề và nghệ thuật của bài thơ, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lý.
  18. Sau đây là một hướng gợi ý: - Nét đặc sắc về nội dung của truyện ngắn: Câu chuyện về tình người và cách người ta đối xử với quá khứ. Điểm “không” dành cho người thầy khi chưa thấu đáo trong cách đánh giá và bất kì ai đã quên một phần lịch sử cũng như trân trọng đức tính cao đẹp của con người. - Nét đặc sắc về nghệ thuật: Cốt truyện đơn giản, dễ hiểu, xoay quanh cuộc trò chuyện giữa hai cha con. Câu chuyện được kể thông qua điểm nhìn của người cha – người kể chuyện ngôi thứ nhất. Đây là điểm nhìn xuyên suốt tác phẩm, giúp cho câu chuyện trở nên sinh động, cụ thể, giàu cảm xúc và chân thật hơn. Thành công của truyện là đã xây dựng được những nhân vật thật tiêu biểu Hướng dẫn chấm: - Phân tích đầy đủ, sâu sắc: 3,0 điểm. - Phân tích đầy đủ nhưng lập luận không chặt chẽ: 2,25 – 2,75 điểm - Phân tích chưa đầy đủ hoặc chưa sâu: 1,5 điểm – 2,0 điểm. - Phân tích chung chung, sơ sài: 0,5 điểm – 1,25 điểm. d. Chính tả, ngữ pháp 0,5 Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt.
  19. Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm có quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp. e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề 0,5 nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ; văn viết có cảm xúc. I + Tổng điểm 10 II