Đề kiểm tra học kì II Ngữ văn 12 - Năm học 2024-2025 (Có đáp án + Ma trận)
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra học kì II Ngữ văn 12 - Năm học 2024-2025 (Có đáp án + Ma trận)", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Tài liệu đính kèm:
de_kiem_tra_hoc_ki_ii_ngu_van_12_nam_hoc_2024_2025_co_dap_an.docx
Nội dung text: Đề kiểm tra học kì II Ngữ văn 12 - Năm học 2024-2025 (Có đáp án + Ma trận)
- ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP HỌC KÌ 2 ĐỀ KIỂM TRA HK2 NGỮ VĂN LỚP 12 – THỜI GIAN LÀM BÀI: 90 PHÚT A. MA TRẬN ĐỀ, BẢN ĐẶC TẢ TT Năng Mạch nội dung Số Cấp độ tư duy lực câu Nhận biết Thông Vận dụng Tổng hiểu % Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ Số Tỉ lệ câu câu câu I Năng Văn bản truyện hiện 4 2 15% 1 10% 1 15% 40% lực đại Đọc (ngoài SGK) II Năng Viết đoạn văn nghị 1 5% 5% 10% 20% lực luận văn học. Viết Viết bài văn nghị luận 1 7.5% 10% 22.5% 40% xã hội. Tỉ lệ 27.5% 25% 47.5% 100% Tổng 6 100% Bản đặc tả yêu cầu các kĩ năng kiểm tra, đánh giá TT Kĩ Đơn vị Mức độ đánh giá Số câu hỏi theo mức độ nhận năng kiến thức thức/Kĩ Nhận Thông Vận dụng năng biết hiểu 1 1. Đọc Văn bản Nhận biết: 2 câu 1 câu 1 hiểu truyện - Nhận biết được nhân vật câu hiện đại người kể chuyện, ngôi kể, điểm nhìn trong truyện ngắn hiện đại. - Nhận biết được một số yếu tố của truyện ngắn hiện đại như: diễn biến tâm lí, hành động của nhân vật. - Nhận biết được đề tài, đặc điểm ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật của truyện ngắn hiện đại. - Nhận biết được các dấu hiệu hiện đại trong truyện ngắn. Thông hiểu: - Tóm tắt được cốt truyện.
- - Phân tích được những đặc điểm của nhân vật truyện ngắn hiện đại. - Lí giải vai trò, ý nghĩa của nhân vật với chủ đề, tư tưởng của tác phẩm. - Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của những chi tiết quan trọng trong tác phẩm. - Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông điệp của văn bản; phân tích được sự phù hợp giữa người kể chuyện, điểm nhìn trong việc thể hiện chủ đề của văn bản. - Phát hiện và lí giải được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ; giá trị văn hoá, triết lí nhân sinh từ tác phẩm. - Phân tích được quan điểm của người viết về lịch sử, văn hoá, được thể hiện trong văn bản. - Hiểu và lí giải được một số đặc điểm cơ bản của phong cách văn học (nếu có) thể hiện trong tác phẩm. Vận dụng: - Vận dụng được kinh nghiệm đọc, trải nghiệm về cuộc sống và kiến thức văn học để đánh giá, phê bình văn bản truyện ngắn hiện đại, thể hiện được cảm xúc, suy nghĩ của cá nhân về tác phẩm. - Đánh giá được giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ của tác phẩm. Vận dụng cao: - Đặt tác phẩm trong bối cảnh sáng tác và bối cảnh hiện tại để đánh giá ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
- - Vận dụng những hiểu biết về lịch sử, văn hóa để lí giải quan điểm của tác giả thể hiện trong tác phẩm. - Đánh giá được khả năng tác động của tác phẩm văn học đối với người đọc và tiến bộ xã hội theo quan điểm cá nhân. 2 Viết Viết Nhận biết: 1* 1* 1* 1 đoạn - Giới thiệu được đầy đủ văn nghị thông tin chính về tên tác luận văn phẩm, tác giả. học - Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một đoạn văn bản nghị luận. Thông hiểu: - Trình bày được những nội dung khái quát về vấn đề nghị luận. - Triển khai được hệ thống ý từ vấn đề nghị luận - Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Vận dụng: - Thể hiện được sự đồng tình / không đồng tình với về các phương diện của vấn đề nghị luận. Vận dụng cao: - Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm, tự sự, để tăng sức thuyết phục cho bài viết. - Vận dụng hiệu quả những kiến thức tiếng Việt lớp 12 để tăng tính thuyết phục, sức hấp dẫn cho bài viết. Viết bài 1* 1* 1* 1 nghị Nhận biết: luận xã - Xác định được yêu cầu về hội nội dung và hình thức của bài văn nghị luận.
- - Nêu được cụ thể vấn đề xã hội có liên quan đến tuổi trẻ. - Xác định rõ được mục đích, đối tượng nghị luận. - Đảm bảo cấu trúc, bố cục của một văn bản nghị luận. Thông hiểu: - Phân tích được lí do và các phương diện liên quan đến tuổi trẻ của vấn đề. - Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi luận điểm. - Cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc gây ấn tượng; sử dụng các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục, chính xác, tin cậy, thích hợp, đầy đủ; đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt. Vận dụng: - Đánh giá được ý nghĩa, ảnh hưởng của vấn đề đối với tuổi trẻ. - Nêu được những bài học, những đề nghị, khuyến nghị rút ra từ vấn đề bàn luận. Vận dụng cao: - Sử dụng kết hợp các phương thức miêu tả, biểu cảm, tự sự, để tăng sức thuyết phục cho bài viết. - Vận dụng hiệu quả những kiến thức Tiếng Việt lớp 12 lớp để tăng tính thuyết phục, sức hấp dẫn cho bài viết. Ghi chú: Phần viết có 02 câu bao hàm cả 3 cấp độ.
- (Đề có 03 trang) ĐỀ LTKIỂM TRA HỌC KÌ 2 NĂM HỌC 2024 - 2025 Môn: Ngữ văn 12 Thời gian làm bài 90 phút không kể thời gian giao đề I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: Đoạn sông chảy qua bến Cốc lia một vòng cung đẩy những doi cát bên bồi về mãi phía tây. Bến đò ở ngay gốc gạo đơn độc đầu xóm. Mùa hoa, trên ngọn cây gạo màu đỏ xao xuyến lạ lùng. ( ) Con sông và bến đò ấy gắn với đời tôi những năm thơ ấu. Thường thường, tôi vẫn thích nhất mùa đánh cá mòi. ( ) Tuyệt vời hơn nữa còn là truyền thuyết huyễn hoặc về con trâu đen ở khúc sông này. Những người đánh cá ban đêm quả quyết đã nhìn thấy nó. Nó thường xuất hiện vào lúc nửa đêm. Nó ở dưới đáy lòng sông lao lên mặt nước. Toàn thân bóng nhẫy, đôi sừng cao vút, mõm thở phì phì, con trâu phi trên mặt nước như phi trên cạn. Con trâu phì bọt, nước dãi của nó tựa như trứng cá. Nếu ai may mắn hớp được bọt ấy sẽ có sức lực phi thường, bơi lặn dưới nước giỏi như tôm cá. Tất cả những điều như thế đối với tuổi thơ của tôi có sức lôi cuốn lạ kỳ. Thâm tâm, tôi vẫn ước mong nhìn thấy con trâu, biết đâu tôi sẽ chẳng được hưởng điều kỳ diệu? Tôi xuống bến đò, năn nỉ những người đánh cá mòi để giúp không công cho họ. Thường tôi phải vã bọt mép mới có một người nào đấy thương hại cho tôi ngồi ghé lên thuyền. ( ) Cũng có một lần tôi theo trọn vẹn buổi đánh cá đêm. Lúc ấy tôi ngồi thuyền của trùm Thịnh. Lão già chột mắt này rất nổi tiếng vì những câu chuyện rùng rợn trong cuộc đời mình. ( ) Cái lão trùm Thịnh khủng khiếp thế mà đồng ý cho tôi đi theo. ( ) Tôi hỏi trùm Thịnh: - Bác ơi, thế chuyện trâu đen có thực hay không? Trùm Thịnh bật cười, lão ngả người ra sau lái, tia sáng từ trong hốc con mắt lành nhay nháy: - Tao đã đánh cá trên khúc sông này sáu chục năm trời. Tao thuộc từng lạch một Chuyện con trâu đen chỉ là chuyện đồn nhảm nhí Mày hãy tin tao, ở bến Cốc này thì chuyện giết người ăn cướp có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực, còn chuyện trâu đen là giả.
- Tôi lén một tiếng thở dài. Con thuyền bồng bềnh trôi xuôi. Một lát, thuyền của chúng tôi tìm cách vòng ra tim sông. Những con thuyền khác cũng đã phát hiện ra được luồng cá. Một cuộc giành giật diễn ra, tiếng lưới ném xuống mặt sông rào rào. Trùm Thịnh làu bàu chửi rủa. Lão điều khiển thuyền vọt lên làm tôi ngã ngửa. Tôi định ngồi dậy thì thuyền chòng chành lật nghiêng hất tôi xuống nước. Nước sặc vào miệng khiến tôi nghẹt thở. Một nỗi hoảng hốt lạnh buốt lướt trong tim óc. Tôi gào thất thanh kêu cứu. Chân tôi cứng đờ, đau buốt lạ lùng. Tôi chìm xuống nước. Tôi bỗng hoảng sợ điên cuồng vì nhớ những người đánh cá có lệ không cứu những ai chết đuối Tôi mê lịm đi, thấp thoáng nghe có tiếng ai như đang tâm sự với mình: - Năm nay Hà Bá chưa bắt người nào! . Tiếng một phụ nữ thất thanh. Tôi ngất lịm đi, thấy cả bầu trời sập xuống Khi tôi tỉnh dậy, tôi thấy mình nằm trên con đò ngang. Ngồi bên cạnh tôi là một phụ nữ khăn trùm kín mặt. Đôi mắt to đen nhìn tôi mừng rỡ: – Thế là tỉnh rồi Em ăn một tí cháo nhé? Tôi cố nhỏm dậy, bụng dạ trống rỗng vào đau cồn cào, chân tay tôi run bần bật. Tôi đón bát cháo cá nóng mà cầm không vững. – Để chị bón cho – Người phụ nữ nói dịu dàng – Chị tưởng em chết. Chân tay em cứng đờ ra. Lão Tảo dốc trong bụng em đến nửa vại nước. Em là liều lắm! Đi đánh cá đêm với lão trùm Thịnh có ngày chết toi mất xác! – Chị cứu em à? – Tôi hỏi. – Ừ chị nghe thấy em kêu cứu. – Bọn đánh cá đêm ác lắm chị ạ – Tôi buồn rầu nói. - Họ nghe thấy em kêu cứu mà cứ lờ đi . - Đừng trách họ thế – Người phụ nữ an ủi tôi, giọng nói ngân nga như hát - Có ai yêu thương họ đâu Họ đói mà ngu muội lắm ... Tôi ngạc nhiên nghe lời chị, chưa ai đi nói với tôi những điều như thế. ( ) Thế là từ đấy tôi quen chị Thắm. Chị Thắm nhà trong bến Cốc. Nhà chị nghèo lắm. Suốt ngày ở trên con đò ngang, một tấm khăn vuông đen trùm kín mặt. Có lần tôi hỏi chị Thắm về chuyện trâu đen. Chị bảo: - Trâu đen có thực! Nó ở dưới nước. Khi nó lên bờ là nó mang cho người ta sức mạnh Nhưng nhìn thấy nó, được nó ban điều kỳ diệu phải là người tốt. Tôi tin lời chị. Lòng tôi vẫn hằng ấp ủ trông thấy điều kỳ diệu ấy. Con người ta tối tăm lắm Chị nói với tôi khi hai chị em ngồi trên mũi đò chờ khách sang sông. Con người vô tâm nhiều như bụi bặm trên đường. Tôi nghe chị nói, mắt ngó như nhìn bông gạo thỉnh thoảng lại khẽ khàng buông những cành đỏ thắm trên bãi cát ướt. ( ) Mùa hè năm ấy nhà tôi chuyển về thành phố. Thế là tôi xa bến Cốc, xa chị Thắm. (...) Năm ngoái, bỗng nhiên tôi có dịp trở về bến Cốc. Bây giờ tôi đã trưởng thành. Cuộc sống trưởng giả no đủ bao bọc lấy tôi. Bến Cốc vẫn hệt như xưa. Cá mòi phơi trắng trên bờ. Bến đò rất ít những người qua lại. Cây gạo vẫn đứng cô đơn chốn cũ, màu hoa rực đỏ xao xuyến bồn chồn. Tôi bước xuống đò mà lòng bồi hồi khôn tả. Trên đò, một bà cụ già đang ngồi tư lự. Tôi bước lại gần khẽ hỏi: - Cụ ơi, chị Thắm lái đò còn ở đây không? - Thắm ư? - Bà cụ thoáng nỗi ngạc nhiên. Tôi đứng lặng người khi nhận ra con đò cũ. Kỷ niệm ấu thơ bồng vụt hiện về. - Ông quen nhà Thắm ư ông? – Bà cụ hỏi tôi, giọng nói nghẹn ngào
- - Bao nhiêu năm nay chẳng hề có ai hỏi thăm nhà Thắm Nhà Thắm chết đuối hai chục năm rồi! Tôi oà lên khóc nức nở. Xung quanh sông nước nhoà đi. Bà cụ lái đò vẫn đang rầu rầu kể lể: - Khốn nạn! Nhà Thắm cứu được không biết bao người ở khúc sông này Thế mà cuối cùng nó lại chết đuối mà không ai cứu Tôi muốn gào lên chua xót. Tôi bỗng nhiên thấy cuộc sống hiện giờ của tôi vô nghĩa xiết bao. Con trâu đen, con trâu đen trong thời thơ ấu của tôi nay ở đâu rồi? ( ) (“Chảy đi sông ơi” trích Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, NXB Đông A) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Truyền thuyết con trâu đen được nhìn qua điểm nhìn của những nhân vật nào? Câu 2. Xác định dấu hiệu nhận biết ngôn ngữ thân mật trong đoạn văn sau? - Tao đã đánh cá trên khúc sông này sáu chục năm trời. Tao thuộc từng lạch một Chuyện con trâu đen chỉ là chuyện đồn nhảm nhí Mày hãy tin tao, ở bến Cốc này thì chuyện giết người ăn cướp có thực, ngoại tình có thực, cờ bạc có thực, còn chuyện trâu đen là giả. Câu 3. Qua đoạn trích, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ca ngợi những vẻ đẹp nào của con người? Câu 4. Nhận xét về kết thúc của truyện ngắn “Chảy đi sông ơi II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích chi tiết hoa gạo trong “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp. Câu 2 (4,0 điểm) Có người yên tâm sống trong những hàng rào vây kín. Có người lại luôn tìm cách vượt rào. Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên. HDC ĐỀ LT KIỂM TRA HỌC KÌ 2 NĂM HỌC 2024 - 2025 Môn: Ngữ văn 12 (Huớng dẫn chấm gồm 03 trang)
- Phần Câu Nội dung Điểm I ĐỌC HIỂU 4,0 1 Truyền thuyết con trâu đen được nhìn qua điểm nhìn của 0,5 những nhân vật: Tôi; chị Thắm; trùm Thịnh; những người đánh cá. Hướng dẫn chấm: - Học sinh trả lờiđúng 01 nhân vật: 0,25 điểm. - Học sinh không trả lời đúng như đáp án: không có điểm. 2 Dấu hiệu nhận biết ngôn ngữ thân mật.: Cách xưng hô gần gũi: 0,5 dùng từ ngữ dân dã: tao, mày, câu văn ngắn gọn, tường minh. - Học sinh nêu được 1 ý cho 0,25 điểm. - Học sinh nêu được 2 ý trở lên cho 0, 5 điểm. 3 Qua đoạn trích, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp ca ngợi những vẻ 1,0 đẹp của con người: + Sự bao dung (cái nhìn của chị Thắm về trùm Thịnh, về những người đánh cá). + Vẻ đẹp thiện lương của con người (chị Thắm cứu người, tuổi thơ của nhân vật tôi) + Niềm tin, đức tin trong cuộc sống (tôi, chị Thắm, về huyền thoại con trâu đen). Hướng dẫn chấm: Học sinh chỉ ra đúng một ý được 0,5 điểm; từ 2 ý trở lên cho 1,0 điểm. (Học sinh có thể diễn đạt khác nhưng đảm bảo nội dung trên) 4 - Kết thúc truyện: Chị Thắm là một người tốt nhưng lại gặp 1,0 phải chuyện không may, chị cứu nhiều người nhưng lại không có ai cứu chị. - Nhận xét: Kết thúc của câu chuyện buồn, phản ánh một thực tế đau xót, không phải khi nào “ở hiền cũng gặp lành”. Hướng dẫn chấm: - Học sinh chỉ ra cách kết thúc: 0,5 điểm - Nhận xét: 0,5 điểm; (một điểm chung cho 0,25 điểm) (Học sinh có thể diễn đạt khác nhưng đảm bảo nội dung trên) II VIẾT 6,0 1 Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích chi 2,0 tiết hoa gạo trong “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp. a. Xác định được yêu cầu về hình thức,dung lượng của đoạn 0,25 văn Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành. b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,25
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: phân tích chi tiết hoa gạo trong “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp. c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề cần nghị 1,0 luận. Lựa chọn thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau: * Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: chi tiết hoa gạo trong “Chảy đi sông ơi” của Nguyễn Huy Thiệp. * Phân tích chi tiết: - Chi tiết xuất hiện xuyên suốt: phần đầu câu chuyện: Mùa hoa, trên ngọn cây gạo màu đỏ xao xuyến lạ lùng, giữa câu chuyện nhìn bông gạo thỉnh thoảng lại khẽ khàng buông những cành đỏ thắm trên bãi cát ướt, cuối câu chuyện Cây gạo vẫn đứng cô đơn chốn cũ, màu hoa rực đỏ xao xuyến bồn chồn tạo nên kết cấu chặt chẽ; đan xem miêu tả ngắn gọn, tạo sức gợi/biểu tương, đa dạng trần thuật. - Tô đậm vẻ đẹp thiên nhiên: hoa gạo được miêu tả với vẻ đẹp rất riêng: gạo màu đỏ xao xuyến lạ lùng, đỏ thắm, rực đỏ xao xuyến bồn tạo nên vẻ đẹp riêng cho khung cảnh bến Cốc. Đồng thời, hoa gạo còn soi chiếu vẻ đẹp của Thắm (đỏ thắm hoa gạo với tên người ), thể hiện niềm tin hướng thiện trong cái nhìn hướng tới của nhân vật tôi và tượng trưng cho sự bất diệt những giá trị tốt đẹp dù có đơn độc trước biến động. * Khẳng định lại vấn đề: “Chi tiết nhỏ làm nên nhà văn lớn”. Chi tiết hoa gạo đem lại sức sống riêng cho truyện ngắn “Chảy đi sông ơi” và góp phần khẳng định tài năng viết truyện ngắn độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp. d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn. đ. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có 0.25 cách diễn đạt mới mẻ 2 Có người yên tâm sống trong những hàng rào vây kín. Có người lại luôn tìm cách vượt rào. 4,0 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ về vấn đề trên. a. Đảm bảo bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận 0,25 Thái độ khác nhau của con người trước lối sống vượt rào: có người yên tâm sống trong những hàng rào vây kín, có người lại luôn tìm cách vượt rào. b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Sự cần thiết phải nuôi 0,5 dưỡng tâm hồn của các bạn trẻ. c. Đề xuất được các hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của 2,5 bài viết.
- Lựa chọn thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng: 1. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề: Thái độ khác nhau của con người trước lối sống vượt rào. 2. Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận * Giải thích - Hàng rào: vật dùng để ngăn cách, phân tách không gian hoặc để xác định giới hạn, phạm vi của một đối tượng nào đó. Theo nghĩa ẩn dụ, hàng rào có thể là đường biên bảo vệ, che chắn cho con người hoặc là chướng ngại, thử thách mà con người gặp phải trong cuộc sống. - Cách ứng xử với những hàng rào trong cuộc sống thể hiện quan niệm, lối sống của mỗi người: + Yên tâm sống trong những hàng rào vây kín: Là tâm lý của những người an phận, lựa chọn lối sống an toàn. + Luôn tìm cách vượt rào: Là lựa chọn của những người muốn thử thách bản thân, muốn bứt phá, vượt qua những giới hạn an toàn. => Đó là hai cách nhìn nhận, thái độ, lối sống khác nhau khi đối diện với “những hàng rào” trong cuộc sống. * Bình luận - Cuộc sống luôn tồn tại những hàng rào: Có những hàng rào hữu hình được làm bằng các loại vật chất như tre nứa, đất đá, dây thép gai để phân chia ranh giới nhà này với nhà khác, vùng nọ với vùng kia; để bảo vệ tài sản của cá nhân hay tập thể; có những hàng rào vô hình như nỗi sợ, hận thù, định kiến tạo khoảng cách giữa người với người, giam hãm con người trong sự ngột ngạt, tù túng. - Cách ứng xử với những hàng rào: + Chọn cách sống trong những hàng rào: Con người sẽ có được cảm giác an toàn. Hàng rào khi đó sẽ là một loại chỗ dựa về tinh thần, là vũ khí giúp con người tránh được những rủi ro bất trắc trong cuộc sống. Tuy nhiên lối sống này cũng có thể khiến con người bị hạn chế tầm nhìn, đánh mất cơ hội khám phá cuộc sống phong phú, trở nên tù tùng, trì trệ, lạc hậu + Chọn cách sống vượt rào, phá rào: Con người sẽ trở nên mạnh mẽ, chủ động, sáng tạo; có cơ hội khám phá được năng lực tiềm ẩn của bản thân và trải nghiệm cuộc sống rộng mở, phong phú hơn. Tuy vậy, lối sống này có thể khiến con người gặp phải những rủi ro; biến con người trở thành liều lĩnh, bất chấp, mất kiểm soát + Linh hoạt trong cách ứng xử với “những hàng rào trong cuộc sống”: Thấy được ý nghĩa tích cực và tiêu cực của “những hàng rào” là cơ sở để con người chọn cho mình cách ứng xử phù hợp. Có khi cần tôn trọng những hàng rào, lấy đó làm cơ
- sở để xây dựng một cuộc sống an toàn, có văn hóa, có kỉ luật; có khi lại dũng cảm vượt rào để xóa bỏ giới hạn, vượt lên những thách thức, chinh phục những mục tiêu tốt đẹp. *Mở rộng vấn đề: -Trên cơ sở lựa chọn cách ứng xử với “những hàng rào trong cuộc sống”, thí sinh nêu được những phản biện phù hợp, đề xuất bài học nhận thức và hành động hợp lý. * Kết bài: Khẳng định lại vấn đề. d. Diễn đạt 0,25 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản. đ. Sáng tạo 0,5 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ. Tổng điểm 10,0



